VinaWap.Mobi
VinaWap.Mobi đã trở lại và lợi hại hơn xưa! :x
Từ giờ mình sẽ cập nhật thường xuyên. Mong ae ủng hộ để vực dậy cộng đồng wap Việt nhé.
Game Clash of Clans
Game chiến thuật dạng đế chế nổi tiếng trên điện thoại
Tải miễn phí
Game My Talking Tom
Trò chơi nuôi và chơi mèo mới, vui nhộn, đặc sắc và hoàn toàn miễn phí trên điện thoại
Tải miễn phí
Trang chủ » Đọc truyện » Truyện kiếm hiệp

Tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ
Số chương: 10/40
Trạng thái: Đang cập nhật


Thế sự hồi đầu dĩ nhất không,

Giang sơn vô lệ khấp anh hùng.

(Phan Chu Trinh 1872-1926,

Chí thành thông thánh thi)

Dịch nghĩa:

Ngẫm sự thế, quay đầu nhìn về quá khứ, không còn gì cả.

Giang sơn hết nước mắt mà khóc cho sự nghiệp các anh hùng.

Anh hùng Lĩnh Nam

Chương 1: Thế Sự Hồi Đầu Dĩ Nhất Không Giang Sơn Vô Lệ Khấp Anh Hùng

Trời nắng thu, gió heo may rít lên từng cơn, những cây thông bên bờ biển vi vu như tiếng ai oán của dân Việt mất nước. Trên bãi biển Ngọc-đường, một người đàn ông tuổi khoảng 50, lưng đeo bảo kiếm, tay dắt đứa trẻ, thả bước ngắm cảnh. Dân chài đang tụ tập làm việc, người thì vá lưới, kẻ thì giặt lưới. Họ thấy cha con người đàn ông thì lễ phép đứng dậy chào hỏi. Mỗi lần như vậy, cha con phải ngừng lại đáp lễ. Một lão già đang vá lưới, đứng dâïy chắp tay hỏi:

– Đào-hầu hôm nay thư thả, ra đây ngắm cảnh?

Người đàn ông chậm rãi trả lời:

– Khi trong lòng đau dớn, thì còn cảnh nào đẹp nữa? Khi nước đã mất thì còn lòng dạ nào mà dạo chơi?

Đứa trẻ đi cạnh ngước mắt nhìn cha hỏi:

– Bố ơi, nước mình đã mất đâu? Bố con ta chả đang sống trên đất nước mình đây sao?

Đào-hầu không trả lời, dắt con đi ngược lên đồi thông. Tới một mỏm đá nhìn ra biển, ông kéo con ngồi xuống, chỉ ra hòn đảo cách bờ không xa hỏi:

– Con có biết hòn đảo kia tên gì không?

Đứa trẻ trả lời:

– Đại sư huynh bảo đó là hòn đảo Nghi-sơn. Trên đảo có núi Biện-sơn. Đảo dài 4 dậm, rộng 2 dậm. Từ đây ra đảo khoảng 150 trượng. Trên đảo có đền thờ Mỵ Châu. Bãi biển Nghi-sơn có nhiều ngọc trai. Phía tây núi Biện-sơn có một giếng nước tên là Ngọc-tỉnh, nghĩa là giếng ngọc. Đem nước giếng ấy rửa ngọc trai, thì ngọc sáng và đẹp lắm.

Đào-hầu ngạc nhiên hỏi:

– Ai đã dẫn con đi chơi đảo Nghi-sơn?

Đứa trẻ cười nắc nẻ, giật tay cha:

– Thưa bố, anh Nghi-sơn.

Đào-hầu gật đầu, trầm tư nhìn những lớp sóng từ biển cuốn vào bờ, thở dài.

Đào-hầu tên thực là Đào Thế-Kiệt. Ông có ba con trai, con lớn là Đào Nghi-Sơn, con thứ là Đào Biện-Sơn, đều đã trưởng thành. Con thứ ba là Đào Kỳ, tức đứa trẻ này, mới 13 tuổi. Ông thấy Kỳ còn nhỏ, nên chưa cho biết những điều hệ trọng của đất nước, vì vậy trên bãi biển, nghe con đặt câu hỏi có liên quan đến đại vận dân tộc, ông không trả lời.

Ông hiện là một trong chín Lạc-hầu ở vùng Cửu-chân. Tổ tiên ông nguyên là tướng của Thục An-dương vương. Khi An-dương vương bị Triệu Đà cất quân sang đánh, bị thua trận, chạy đến đây thì khám phá ra con gái là Mỵ-Châu vì ngây thơ dại dột trong tình yêu mà làm mất nước.

Ngài giết con gái để tạ tội với thiên hạ rồi nói với các tướng sĩ rằng:

– Ta vì sinh con, không biết dạy, đến nổi làm hư việc nước. Ta không còn mặt mũi nào nhìn các quan, nhìn quốc dân nữa. Ta nguyện lấy cái chết để tự xử mình. Sau khi ta chết rồi, các người hãy chịu nhục, ẩn nhẫn theo gương Câu Tiễn nằm gai nếm mật, giúp người già, dạy trẻ thơ, để mai này khôi phục lại giang sơn.

Nói rồi An-dương vương nhảy xuống biển tự tử. Trong các tướng hồi đó có tổ tiên của Đào hầu. Ông cùng binh sĩ khai phá đất hoang, đốt rừng làm rẫy, lập ra Đào trang, đến nay đã bảy đời.

Trước khi tổ tiên ông tới đây thì vùng này dân chúng phiêu bạt, sống rải rác khắp nơi. Tổ tiên của ông cùng tám vị tướng khác chia nhau mỗi người một vùng, tụ tập dân chúng lại, dạy cho họ trồng cây, chăn nuôi. Lại giúp họ cất nhà, đóng thuyền, làm lưới đánh cá. Dân chúng cảm phục tôn chín người thành chín vị Lạc-hầu.

Thời bây giờ, người Hán tuy cai trị đất Việt, nhưng vẫn dùng chế độ phong kiến, mỗi vùng để nguyên một vị Lạc-hầu hay Lạc-tướng cai trị. Dân trong ấp dưới quyền điều động của Lạc-hầu, Lạc-tướng. Còn Thái-thú, Huyện-lệnh, Huyện-úy thì chỉ việc kiểm soát các Lạc-hầu, Lạc-tướng mà thôi.

Quận Cửu-chân, có một Thái-thú cai trị. Dưới Thái-thú có một Đô-úy coi về quân sự, có một Đô-sát coi về an ninh giống như ngày nay là cảnh sát, công an. Quận Cửu-chân chia làm bốn huyện, mỗi huyện có một Huyện-lệnh người Hán và một Huyện-úy khi thì người Việt, khi thì người Hán coi về quân sự. Mỗi huyện cũng có một Giám-sở Tế-tác coi về an ninh.

Sau gần 100 năm thì các Lạc-hầu họp nhau lại, lập ra phái võ Cửu-chân, thành ra bây giờ ở Cửu-chân chỉ có một phái võ, nhưng có tới chín trang ấp khác nhau. Từ khi phái võ Cửu-chân được thành lập đến giờ trải gần 100 năm. Võ phái Cửu-chân lấy việc phản Hán phục Việt làm lẽ chính để hoạt động. Các tôn sư của phái trọng nghĩa khinh tài, nên được các anh hùng khắp vùng Lĩnh-nam như Nam-hải, Quế-lâm, Giao-chỉ, Nhật-nam, Tượng-quận kính phục.

Tuy bên trong phái Cửu-chân có ý đồ lớn như vậy, nhưng vẫn giữ được bí mật. Nên khi Đào hầu thấy Đào Kỳ biết tường tận về đảo Nghi-sơn, ông tưởng mưu đồ bí mật đó con đã biết, nên mới vặn hỏi. Không ngờ, Đào Kỳ không biết gì hơn về thắng cảnh địa phương.

Nguyên hai hòn núi ngoài bờ biển, trước đây không có tên, một lần Đào hầu cùng phu nhân đi ngoạn sơn hứng gió, trở về đẻ ra người con thứ nhất, ông đặt tên là Nghi-Sơn, và đặt tên hòn núi đó là Nghi-sơn luôn. Hai năm sau ông bà du ngoạn hòn núi thứ nhì, về thụ thai đẻ ra người con thứ nhì, ông đặt tên là Biện-Sơn, và cũng đặt núi đó là Biện-sơn.

Ghi chú của thuật giả:

Đảo Nghi-sơn ngày nay nằm cách thị xã Thanh-hoá 55 km tại xã Ngọc-đường. Đảo dài khoảng 6 km, rộng 2 km, cách bờ biển khoảng 300-500 m. Trên đảo Nghi-sơn có núi Biện-sơn. Đền thờ Mỵ Châu hiện nay vẫn còn. Giếng Tẩy ngọc cũng còn. Trên đảo có một thành, xây từ đời Tây-sơn đặt 12 khẩu đại bác.

Thấy Đào Kỳ tuy mới 13 tuổi, nhưng đã khôn ngoan, ông muốn cho con biết những điều hệ trọng. Trước khi cho biết, ông gây sự tò mò của con, hơn là nói thẳng ra. Ông hỏi Kỳ:

– Con đã học được bao nhiêu cuốn sách rồi?

Đào Kỳ chìa bản tay ra tính:

– Đại-học này, Trung-dung này, Luận-ngữ này, Mạnh-tử này. Tứ-thư con học hết rồi. Ngũ-kinh thì con đã học kinh Thi, Thư, Xuân-thu, còn kinh Dịch thì đang học. Thầy con bảo tháng sau con sẽ được học Hàn-phi tử.

Đào hầu hướng mặt nhìn ra xa:

– Cuộc thế xoay vần, nhà Chu phong cho 800 chư hầu, nay chỉ còn lại một đất Trung-nguyên, những dân xung quanh đều trở thành Hán. Người Hán coi các dân tộc khác như thú vật, như man mọi. Họ gọi chúng ta là rợ Việt, là Nam-man, là rợ Giao-chỉ. Chúng ta có quốc tổ Hùng-vương, mà không được thờ, phải thờ Hoàng-đế, thờ Chu-công, Văn-vương, lại còn phải thờ cái gã nhà quê Lưu Bang tức Cao-tổ nhà Tây-hán . Người ta nhân danh là Hán, có quyền coi chúng ta như trâu, như chó, muốn giết thì giết, muốn bỏ tù thì bỏ. Tại sao chúng ta lại phải cúi đầu chịu nhục như vậy?

Đào Kỳ như thức tỉnh, nhìn vào chân trời xa xa:

– Vì người Hán có gươm, có đao, có sức mạnh. Vì người Hán đông, người Việt ít.

Đào hầu gật đầu:

– Chúng ta cũng có gươm, có đao, có sức mạnh. Nhưng chúng ta thiếu hai thứ: một là sự hợp quần, hai là lòng can đảm. Nếu chúng ta được hai thứ đó thì có thể đuổi người Hán ra khỏi đất nước này. Bởi vậy hôm nay bố đưa con lên đây, để dạy con mấy bài học.

Đứa trẻ mở to mắt reo lên:

– Bố ơi, con đã học xong bộ Cửu-chân trượng pháp rồi. Hôm nay bố dạy con Cửu-chân chưởng pháp đi bố.

Đào hầu lắc đầu:

– Võ thì lúc nào học chẳng được. Con đã 13 tuổi rồi, bố phải dạy con bài học quan trọng hơn. Nếu không có bài học này thì dù con có đọc hàng nghìn cuốn sách, có học hết các võ công trong thiên hạ cũng vô ích mà thôi. Đó là bài học để biết sử dụng những kiến thức trong sách vở, những chiêu thức võ học của thiên hạ.

Đào Kỳ hỏi lại:

– Bố ơi, con biết sử dụng Cửu-chân trượng pháp, Cửu-chân cầm nã thủ và Cửu-chân kiếm pháp rồi. Có khó gì đâu?

Đào Kỳ nói xong, nó rút kiếm bên cạnh cha ra, làm lễ rồi múa như mây bay, như gió cuốn. Hết bài, nó làm lễ với cha rồi tra kiếm vào vỏ, ngồi xuống.

Đào hầu vẫn mơ màng nhìn ra biển:

– Con biết sử dụng kiếm, nhưng dùng nó để làm gì? Giúp ích cho ai?

Đào Kỳ suy nghĩ một lúc, rồi chau mày, miệng muốn nói gì, rồi lại lắc đầu lộ vẻ không hiểu.

Đào hầu vuốt tóc con:

– Bố có ba con trai, thì con có ngộ tính cao nhất, hy vọng con sẽ là người thực hiện được cái chí của bố. Cho nên hôm nay bố đưa con lên đây để dạy cho con bài học quan trọng, đó là chỉ cho con biết sử dụng những gì con học được.

Ngừng một lát Đào hầu tiếp:

– Chúng ta thuộc dòng giống Bách Việt ở phía Nam núi Ngũ-lĩnh. Tổ tiên của chúng ta là Lạc-long quân. Lạc-long quân lấy tổ mẫu là Âu-cơ, tương truyền sinh được một trăm người con. Lạc-long quân phong cho mỗi con cai trị một vùng, do đó chúng ta có dòng giống Bách-việt. Người con cả của Lạc-long quân lên làm vua, lập ra họ Hồng-bàng, nước gọi là Văn-lang.

Đào Kỳ gật gật đầu, tỏ ý hiểu biết.

– Trải qua mấy ngàn năm đất nước của người Việt vẫn riêng một phương trời Nam. Sau vua Hùng thứ 88 vì mải mê rượu chè, bỏ bê chính sự, một trong các vua giống Bách-việt là Thục Phán đánh lấy nước Văn-lang lập ra nhà Thục. Vua Thục đặt tên nước là Âu-lạc.

Ghi chú của thuật giả:

Theo cổ sử, thì họ Hồng-bàng làm vua được 18 đời. Nhưng chúng tôi căn cứ vào một thư tịch khác thì không phải 18 mà 88. Con số 88 hợp lý hơn, nên trong suốt tất cả các tác phẩm của tôi, tôi dùng con số này. Xin đọc sang Anh-hùng Lĩnh Nam quyển 4.

Đào Kỳ reo lên:

– Con biết rồi bố ơi! Có một lần thầy đồ dạy con học, khi nói đến nước Âu-lạc thì người ngưng bặt, và thở dài. Con hỏi nước Âu-lạc là gì thì thầy lắc đầu. Tại sao thế hở bố?

Người cha thở dài:

– Đất nước có tên mà không dám nói tới. Người sống có khác gì chết không? Thầy con nhắc tới quốc hiệu Âu-lạc mà không dám giảng cho con nghe, vì nước chúng ta bị người Hán đô hộ, họ cấm nói đến những gì về lịch sử của chúng ta.

Đào Kỳ như đã hiểu được cha nó muốn nói gì:

– Bố ơi, thế nước Âu-lạc chúng ta làm sao mà bị mất, và mất tự bao giờ?

– Chúng ta mất nước tính đến nay là 184 năm rồi. Khi An-dương vương dựng nước, thì bên Trung-nguyên, Tần Thuỷ-hoàng thôn tính hết các chư hầu, dựng thành Trung-nguyên. Tần Thuỷ-hoàng muốn đất Âu-lạc thành quận huyện cai trị như Trung-nguyên. Thục An-dương vương cương quyết không để mất nước, chống lại. Thuỷ-hoàng sai tướng là Đồ Thư mang nửa triệu quân sang đánh. Người Việt ta, do đại tướng quân Cao Nỗ chỉ huy, ẩn vào rừng đêm ra đánh nhau với quân Tần. Cuối cùng giết được Đồ Thư, và bảo toàn được độc lập. Trong cuộc chiến này, đất nước chúng ta quá rộng, mà người ít, phải rút về phương Nam. Quân Tần lấy mất một số đất đai phía Nam núi Ngũ-lĩnh đặt ra ba quận Nam-hải, Quế-lâm và Tượng-quận, giao cho một viên quan cai trị, đó là Triệu Đà.

Ghi chú của thuật giả:

Tư Mã Thiên, Sử-ký quyển 112, chép: “Bấy giờ Thuỷ-hoàng phía Bắc thì mắc họa với rợ Hồ. Phía Nam thì khốn khổ với người Việt. Đóng binh ở chỗ đất hiểm, tiến không được, mà thoái thì cũng không xong. Suốt 10 năm, đàn ông phải mặc áo giáp, đàn bà phải xung làm lao dịch chuyên chở, khổ sở không chịu nổi. Người người thắt cổ trên cây dọc đường, người chết trông nhau”.

Nghe cha nói, mặt Đào Kỳ hiện ra những nết ưu tư như người lớn. Đào hầu tiếp:

– Sau nhân Tần Thuỷ-hoàng tàn ác, dân chúng nổi loạn khắp nơi, Triệu Đà cũng không thần phục nhà Tần, xưng là Triệu Võ-vương, đóng đô ở Phiên-ngung. Đà là người khôn ngoan, có chí lớn, muốn lập một quốc gia lâu dài. Nhưng mở rộng về phương Bắc thì vướng nhà Hán hùng mạnh, nên tìm cách Nam tiến. Triệu Đà thấy trước đây Đồ Thư, đem quân Tần đánh nước Âu-lạc mà bị giết, vì Âu-lạc có ba bảo vật. Đà tìm cách phá ba thứ đó. Y bèn hỏi công chúa Mỵ Châu của An-dương vương cho con trai đầu lòng là Trọng Thuỷ, và khôn ngoan hơn, cho Trọng Thuỷ ở rể. Kỳ con, con thấy Triệu Đà có khôn không?

Đào Kỳ, tuy mới 13 tuổi, nhưng được cha dạy võ, thầy dạy văn, cha con luôn cạnh nhau, nên đã trưởng thành, biết suy nghĩ như người lớn. Nó cau mặt:

– Chắc là Thục An-dương vương không chịu gả Mỵ Châu cho Trọng Thuỷ.

Đào hầu lắc đầu:

– Con lầm rồi! An-dương vương chịu gả mới khổ chứ! Tại sao con cho rằng An-dương vương không chịu?

– Con nghĩ An-dương vương là người có tài, có chí lớn, thì mới thắng được Hùng-vương. Sau khi thắng Hùng-vương lại một lần kinh nghiệm nữa, không lẽ không biết được ý đồ của Triệu Đà? Mà dù vương có lầm lẫn thì tướng sĩ của ngài sẽ ngăn cản. Ngài dại gì gả Mỵ Châu cho Trọng Thuỷ.

Đào hầu thấy con có nhận xét tinh tế, ông mừng lắm. Ông nghĩ thầm: Nếu cứ đà này, thì năm 20 tuổi, Đào Kỳ sẽ là người lỗi lạc, có thể nối chí ông mưu đồ phục quốc được.

– Con đã biết nhìn xa rồi đó. Quân Tần mạnh mẽ biết chừng nào, gồm thâu các nước Trung-nguyên, thế như thác đổ. Vua Tần dùng đến nửa triệu quân đánh Âu-lạc nhưng vẫn bị bại. An-dương vương vì tự hào đó mà mất nước. Ngài quên rằng Âu-lạc có Tam bảo mới thắng được Tần. Con biết Tam bảo là gì không?

Đào Kỳ ngơ ngác nhìn cha, suy nghĩ một lúc rồi gãi đầu, bứt rứt trả lời:

– Con tìm ra rồi, Tam bảo là ba thứ quí. Thứ nhất là võ công của Âu-lạc, Văn-lang hơn Tần. Thứ nhì là địa thế Âu-lạc hiểm trở, khiến quân Tần tiến không được lui cũng không xong. Còn bảo vật thứ ba là gì thì con nghĩ không ra.

– Được, bố sẽ cho con biết nó là gì. Con hãy làm đừng hỏi vặt, đợi xong rồi sẽ biết.

Ông lấy cỏ bện thành một cái bùi nhùi dài, rồi quấn quanh người con như cái áo giáp. Ông lại lấy kiếm chặt tre, đẽo thành một cây côn đưa cho Đào Kỳ, dặn:

– Con đã học Cửu chân trượng pháp, con đánh cho bố coi.

Đào Kỳ cầm côn, bái tổ rồi đi thứ tự từng lộ một. Khi nó đi đến lộ thứ nhì thì có tiếng ngựa hí. Hai con tuấn mã, trên lưng chở hai người Hán, ăn mặc theo lối quan binh tiến lại gần. Biết có người lạ nhưng nó không dám ngừng lại, vì Đào hầu dạy con rất nghiêm. Khi luyện tập võ nghệ, dù có biến cố gì chăng nữa cũng không được phân tâm. Nên hai con ngựa tiến lại bên cạnh, mà Đào Kỳ vẫn tiếp tục đi hết 36 lộ, mới ngừng.

Hai người mặc theo lối quan binh Hán, thì một người to lớn da trắng, một người gầy, cao da đen. Người to lớn quát:

– Cái bọn Nam-man này trốn lên đây tập võ. Quân này to gan thực, không coi phép tắc của quan Thái-thú ra gì cả!

Dứt lời y lấy roi ngựa quất vào đầu Đào Kỳ, tiếng roi xé gió kêu rít lên vi vu, đủ tỏ kình lực của nó không tầm thường. Cây roi của y là một thứ vũ khí ít thấy, bởi nó bằng da mềm mà dài. Cây roi quấn ngang lưng Đào Kỳ đến ba vòng. Viên quan Hán quát lên một tiếng, rồi giật mạnh roi. Người Đào Kỳ vọt lên cao khỏi mặt đất, bay về phía ngựa viên Hán quan. Viên Hán quan gầy đứng ngoài thấy thế cười ha hả:

– Triệu Thanh, xé xác thằng Nam-man con ra làm đôi đi.

Y vừa nói hết câu, thì một tiếng bốp vang lên, người bạn y to lớn mập mạp đã ngã lăn xuống đất. Còn Đào Kỳ thì ngồi chễm chệ trên lưng ngựa.

Thì ra khi thấy tên quan binh to lớn muốn dùng roi để giật mình lên khỏi mặt đất, Đào Kỳ mượn thế nhảy theo; sức người, sức mình hợp làm một, bay về phía địch. Trong khi bay trên không, nó chuyển trượng giáng một đòn vào đầu đối thủ. Triệu Thanh ngã xuống, còn Đào Kỳ thì đáp trên lưng ngựa.

Nói thì chậm, nhưng diễn biến thì nhanh vô cùng, khiến tên Hán quan gầy gò chỉ còn biết há miệng ra quát tháo:

– Phản rồi! Phản rồi!

Y rút đao ở lưng ra, chân thúc ngựa tiến về phía Đào Kỳ. Đào Kỳ liếc mắt nhìn Đào hầu, thấy ông ngồi trên tảng đá lơ đãng nhìn ra biển, như nghĩ ngợi xa xôi. Ông bảo con:

– Đã trót thì phải giải quyết cho xong đi chứ?

Đào Kỳ dạ một tiếng, đưa côn gạt đao của đối thủ, rồi nó lộn một vòng trên không đáp xuống đất cười hỏi:

– Ngươi là ai, xưng tên cho ta biết.

Người gầy quát:

– Ta là lữ trưởng kỵ binh Cửu-chân. Ngươi vừa đánh ngã lữ phó của ta. Ngươi mau nạp mình, để ta mang về xử tội.

Đào Kỳ cười:

– Đã là lữ trưởng, thì võ nghệ phải cao cường. Ngươi có giỏi xuống ngựa đấu với ta.

Hán quan thấy vừa rồi đứa trẻ chỉ ra một chiêu mà bạn y đã thảm bại. Y đưa mắt nhìn Đào Kỳ để định giá địch thủ. Y thấy đứa trẻ dường như không sợ hãi. Bởi thời bấy giờ quân Hán tác oai tác quái thế nào thì dân chúng cũng phải chịu. Trẻ con, người lớn hễ thấy quân Hán là chạy trốn. Đây Đào Kỳ đã không sợ, còn coi thường nữa. Y thấy cạnh Đào Kỳ còn người cha chưa ra tay, y cũng chột dạ. Nhưng bản tính hống hách đã quen của kẻ đi cai trị, y không thể lui được. Y rút đao nhảy xuống ngựa, đứng thủ thế. Bất thình lình y hét lên một tiếng lớn nhảy vào chém liên tiếp năm đao: Từ trái sang phải, từ phải sang trái, trên xuống dưới, từ dưới lên trên, quay một vòng, rồi đâm thẳng vào ngực Đào Kỳ. Đào Kỳ chỉ nhảy nhót tránh né, chứ không phản công, vì đây là lần đầu tiên giao chiến với địch nên nó thiếu kinh nghiệm.

Đào hầu kêu lên:

– Ngũ hổ đoạn môn đao.

Nghe bố nhắc, nó tỉnh ngộ: Ngũ hổ đoạn môn đao là một thứ đao pháp vùng đất Thục. Đao pháp thiên về dương cương. Khi đánh thì để hở bộ vị dưới chân. Chờ tới khi đối thủ chém đao cuối cùng theo vòng tròn, Kỳ thụp người xuống quất một côn vào hạ bàn y. Viên quan hoảng hốt lộn người để tránh. Khi chân y vừa chạm đất, thì thế côn thứ nhì lại đâm vào hạ bộ. Y hoảng hồn lăn tròn người đi bốn vòng thoát nạn, bật người đứng dậy, thì một thế côn đã trúng đầu y đến bốp một cái. Y ngất xỉu.

Dầu sao Đào Kỳ cũng là một đứa trẻ, chưa kinh nghiệm chiến đấu, đánh địch thủ rồi không biết giải quyết ra sao? Nó hỏi bố:

– Bố ơi! Chúng nó ngất hết rồi.

Đào hầu chỉ thanh kiếm cạnh mình:

– Cho mỗi đứa một kiếm vào cổ.

Tên béo mập đã tỉnh dậy, y bở vía, quỳ gối chắp tay lạy:

– Xin đại nhân làm ơn làm phúc tha cho tiểu nhân. Tiểu nhân trót mạo phạm. Từ nay tiểu nhân gặp đại nhân đâu sẽ xin cúi đầu làm lễ.

Đào Kỳ hỏi bố:

– Bố ơi, tha hay giết?

Đào hầu bảo con:

– Con thắng chúng nó, chứ không phải bố thắng. Tha hay không là tuỳ con.

Đào Kỳ nhìn hai quan nhân người Hán, đang quỳ dưới đất, lòng nó bỗng thấy tội nghiệp, quát lên:

– Ta tha cho đấy. Về đi!

Hai người quan nhân Hán như đã xuống quỷ môn quan được trở về, vội thụp lạy Đào Kỳ rồi lên ngựa phóng thẳng.

Đào hầu nhìn con đầy vẻ hân hoan:

– Con đã thắng được hai võ quan kỵ binh Cửu– chân. Qua cuộc đấu vừa rồi con thấy thế nào?

Đào Kỳ tưởng nhớ lại cuộc chiến đấu:

– Con thấy có điều rất lạ. Một là hai người đều có sức mạnh, đòn đánh ra như vũ bão, chứng tỏ ra đã nhiều năm luyện tập. Nhưng con thấy chúng để ra những sơ hở quá nhiều. Hai là những sơ hở đó lại hợp với những chiêu thức bố dạy con. Bố cho con biết tại sao đi!

– Những điều con nhận xét rất đúng. Có gì mà không hiểu. Nếu như bố luyện võ của Trung-nguyên từ bé, thì giờ phút này chưa chắc bố đã là đối thủ của họ. Còn con học võ Văn-lang, Âu-lạc, nên chỉ một hai chiêu hạ được họ là lẽ thường. Con nên biết rằng võ học nhà ta xuất phát từ đời An-dương vương. Cửu-chân trượng pháp là của ông Nồi, ngài tên thực là Vũ Bảo Trung. Nguyên ba cha con ông Nồi xưa kia là tướng của An-dương vương. Các ông đã nhân giao đấu với quân Tần, tìm ra tất cả những phá cách của võ học Trung-nguyên, rồi chế ra 36 lộ trượng pháp. Bởi vậy mỗi thế đánh của họ, để ra những sơ hở. Nếu như con giao chiến với người Lâm-ấp, thì chưa chắc con đã thắng họ dễ dàng như vậy. Con phải tìm hiểu lối đánh của họ, nhiên hậu mới thắng. Còn con đánh với người Hán, thì những thức, những chiêu con đánh ra đều khắc chế với họ cả, do vậy con thắng họ dễ dàng… Bây giờ con dùng Cửu-chân trượng pháp để tự vệ. Bố sẽ dùng những cành cây làm tên, bắn vào con.

Ghi chú của thuật giả:

Ông Nồi, tên thực là Vũ Bảo Trung tước phong Trung-tín hầu, là khai quốc công thần của Thục An-dương vương. Ngài quán tại Hương-canh, huyện Yên-lãng, tỉnh Vĩnh-phú, Bắc Việt. Xuất thân là người làm nghề nặn đồ sành bán, nên dân chúng gọi là ông Nồi. Ngài là đệ tử của Vạn-tín hầu Lý Thân. Ngài có hai người con trai, lớn là ông Đống tức Vũ Bảo Sơn tước phong Bảo-nghĩa hầu, thứ là ông Vực tức Vũ Bảo Hà tước phong Bảo-tín hầu. Khi Triệu Đà xâm lăng Thục, ba cha con ngài đều tuẫn quốc. Nơi cha con Ngài tuẫn quốc là vùng Chiêm-trạch, dân chúng gọi là gò Thánh-hóa. Ngày nay đền thờ của ba cha con Ngài còn tại Ngọc-chi và Vĩnh-thanh, huyện Đông-anh, Hà-nội.

Đào Kỳ tuân lệnh, múa côn như một chiếc cầu xanh bao phủ lấy thân. Đào hầu dùng những cành tre nhỏ như những mũi tên phóng vào người con. Ông phóng một lúc năm mũi, thì Kỳ gạt được có hai, còn ba mũi ghim vào tấm áo giáp bằng cỏ. Đến đó Đào hầu ngừng lại, hỏi con:

– Lúc nãy bố con ta đang nói đến Tam-bảo, con đoán được hai. Vậy vừa rồi là đệ tam bảo đó.

Đào Kỳ ngơ ngác không hiểu:

– Thế nghĩa là…

– Là kỹ thuật bắn cung tên của Âu-lạc.

Đào Kỳ đang hớn hở, bỗng buồn thiu lại:

– Con có nghe truyện này rồi. Mẹ kể cho nghe ngày xưa, vua An-dương xây thành Cổ-loa, cứ xây lại bị đổ. Sau được thần Kim-quy hiện lên bắt ma đi, vua mới xây được thành. Sau khi xây thành, thần cho vua cái móng rùa, làm nỏ thần. Mỗi phát bắn ra cả ngàn người chết.

– Không phải thế đâu con ơi! Không phải thần Kim-quy, mà là đại tướng Cao Nỗ. Ngài chế ra nỏ, có thể bắn một lúc cả trăm mũi tên. Có mũi nỏ như tên thường, có mũi to bằng bắp tay. Như ban nãy, bố giả làm tên bắn vào con, hai mũi thì con đỡ được, còn ba mũi thì con không đỡ được nữa. Nếu một tướng, dẫn đoàn quân xung trận, chỉ cần nẫy nỏ của Cao hầu bắn một phát, trăm mũi tên tung ra, thì ông tướng đó phải chết, phân nửa đoàn quân tê liệt. Nếu có mười nỏ hay trăm nỏ thì quân nào chịu cho nổi? Vì có nẫy nỏ đó, quân Âu-lạc thắng quân Tần. Triệu Đà nhiều lần đánh Âu-lạc đều bị bại vì thần nỏ.

Bây giờ Đào Kỳ mới hiểu:

– Thì ra Triệu Đà đánh Âu-lạc không được, mới cho Trọng Thuỷ sang làm rể, để phá Tam-bảo của An-dương vương. Một là biết được đường xá, địa thế, tình hình. Hai là biết được võ học Âu-lạc, ba là biết được cách làm nỏ thần.

– Đúng đấy. Bấy giờ trong triều Âu-lạc các quan đều phản đối. Nhưng có một số nhận hối lộ của Trọng Thuỷ nên tán thành. Đại tướng quân Cao Nỗ buồn rầu, cùng em là Cao Tứ lui về vườn ở ẩn. Trọng Thuỷ ở rể Aâu-lạc một thời gian đã mua chuộc được nhiều người, ngầm phá hại hết tất cả những xe chở nỏ, những dàn nỏ lớn đặt trên thành. Thuỷ nhân lúc vợ chồng tình nghĩa mặn nồng, hỏi về bí mật chế nỏ. Mỵ Châu nhẹ dạ, ăn cắp sơ đồ chế nỏ đưa cho chồng xem. Trọng Thuỷ ghi nhớ trong lòng, rồi đem trả lại vợ.

Sau khi biết được Tam-bảo của Âu-lạc, Trọng Thuỷ xin phép về thăm nhà. Khi trở về Nam Việt, y tính rằng sẽ mang quân đánh Aâu-lạc, Tam-bảo bị mất Aâu– lạc tất bại trận. Vua An-dương sẽ bỏ chạy, sau đó tụ tập quân phản công. Y nghĩ ra một kế tặng cho Mỵ Châu chiếc áo bằng lông ngỗng. Dặn vợ rằng: Nếu giặc tới, chạy đi đâu thì rắc lông ngỗng đến đó, y sẽ theo dấu lông ngỗng tìm vợ.

Đào Kỳ quát lên:

– Thực là độc địa!

Đào hầu hỏi con:

– Con đoán được rồi à?

– Con đoán ra rồi. Trọng Thuỷ biết An-dương chạy đâu, thì mang Mỵ Châu theo. Cho nên Trọng Thuỷ mới tặng Mỵ Châu chiếc áo lông ngỗng, dặn nàng rắc lông để y biết mà tìm. Trọng Thuỷ chỉ việc theo dấu là bắt được An-dương vương.

– Đúng! Trọng Thuỷ về triều, cho chế nỏ thần như Aâu-lạc, rồi cùng cha là Triệu Đà cất quân đánh. Âu-lạc lâu nay hoà bình, không phòng bị. Khi quân Triệu Đà tới nơi, vội vàng mang nỏ thần ra bắn, thì mười cái hỏng cả mười. Thậm chí những dàn nỏ đặt trên thành cũng bị hỏng cả. Đại quân Âu-lạc tan vỡ mau chóng. An-dương vương vội ôm Mỵ Châu lên ngựa chạy về phía Nam. Chạy được hai ngày thì gặp đoàn đệ tử của anh em Cao Nỗ.

Đào hầu ngừng lại cho con theo kịp rồi tiếp:

– Nguyên khi về nghỉ ở thôn trang, đại tướng Cao Nỗ đã sáng chế ra một loại nỏ bắn mỗi lần cả ngàn mũi tên, tầm bắn xa gấp đôi. Vì vậy đoàn đệ tử của ngài ít người, nhưng bắn lui quân Triệu. Sau quân Triệu tới trùng trùng điệp điệp, mà đoàn đệ tử Cao gia chỉ có mấy trăm người, nên cuối cùng anh em ngài đều tuẫn quốc. Nhờ anh em Cao gia ra sức cản giặc, An-dương vương mới chạy đến đất này.

Đào hầu chỉ mỏm đá trước mặt:

– Đây là chỗ An-vương vương giết Mỵ Châu, rồi nhảy xuống biển chết. Còn ngôi đền trên đỉnh núi kia là nơi tổ tiên ta xây để thờ An-dương vương.

Kể đến đây Đào hầu xuất thần ngơ ngẩn nhìn những lớp sóng biển trắng xoá, lớp nọ đè lên lớp kia xô nhau tiến vào bờ.

Hốt nhiên ông khoanh tay thành quyền, bước chéo sang phải một bước, phóng chưởng đánh vào một bụi cây. Chưởng phong vù vù xô tới, cây cỏ bật tung lên. Ông lại lùi một bước phóng chưởng thứ nhì, cát đá bay mịt mờ. Ông lùi bước thứ ba phóng chưởng nữa, trúng vào cây thông đến ầm một cái, cây thông gãy làm đôi đổ xuống.

Đào Kỳ reo lên:

– Bố ơi, bố sử dụng Cửu-chân chưởng, chiêu Hải triều lãng lãng phải không bố? Chưởng này có năm lớp, sao bố phóng có ba?

Đào hầu xoa đầu con:

– Con đã học chưởng này rồi phải không? Khi Thục An-dương vương chạy đến đây, ngài nghĩ lại lúc 20 tuổi thắng các anh hùng Tây-vu được tôn lên làm vua, rồi 25 tuổi đem quân đánh vua Hùng dựng nghiệp lớn. Năm 30 tuổi đánh quân Tần, giết Đồ Thư. Năm 35 tuổi xây thành Cổ-loa, và bây giờ tuổi tuy già, nhưng lực chưa tàn vì thiếu tinh tế, vì con gái dại dột mà mất nghiệp… Uất khí bốc lên, ngài sáng chế ra chiêu Hải triều lãng lãng gồm năm lớp. Mỗi lớp tượng trưng cho một thời kỳ của ngài. Lớp đầu mạnh hai, thì lớp thứ nhì mạnh bốn, lớp thứ ba mạnh tám, lớp thứ tư mạnh 16, và lớp thứ năm mạnh 32. Ban nãy bố chỉ phát có ba lớp mà mạnh như vậy đó. Chưởng Cửu-chân nhà ta khác với các chưởng khác rất nhiều. Các chưởng khác thì người phải có một công lực cao ở mức độ nào đó mới tập được. Còn Cửu-chân chưởng thì công lực thấp mãnh liệt ít, công lực cao mãnh liệt như sóng bể tràn lan, không biết đâu mà lường.

Đào Kỳ đứng lên nhìn xuống biển, chỉ thấy biển rộng mênh mông, sóng vỗ trùng trùng điệp.

Nó nhìn lên đền An-dương vương hỏi:

– Con đã vào đền lễ nhiều lần cùng với mẹ và các anh. Mẹ chỉ cho con tượng người cầm gươm đứng giữa là An-dương vương, người cầm nỏ đứng bên là Cao Nỗ, người cầm trượng là Vũ Bảo Trung. Trước mặt mấy thần tượng là tượng hai người quỳ gối, một là Triệu Đà, hai là Trọng Thủy. Nhưng bố ơi, tại sao không thờ Mỵ Châu?

– Không thờ! Người Việt không thờ những loại gái bán thân cho ngoại tộc, vì một người chồng ngoại tộc mà hại cả cha mẹ, tổ tiên, hại cả giang sơn, hại cả dân tộc. Nhưng sau này người Hán cai trị chúng ta, họ mới ra ngoài đảo Nghi-sơn xây đền thờ Mỵ Châu, để khuyến khích những người con gái Việt đi theo giặc, bán thân cho giặc, bán hết cả cho giặc như Mỵ Châu. Có điều sau khi Mỵ Châu chết rồi, tự nhiên những con trai ở vùng Cửu-chân có ngọc óng ánh như vết máu. Ngọc đó bị mờ, lấy nước giếng ở núi Biện-sơn rửa thì ngọc sáng ra. Còn Trọng Thuỷ sau khi đuổi tới đây, thấy Mỵ Châu chết, chôn cất tử tế, rồi về Cổ-loa nhảy xuống giếng tự tử chết. Ngọc trai ở đây bị mờ, lấy nước giếng Cổ-loa rửa còn sáng hơn nước giếng Biện-sơn.

Đào Kỳ lại thắc mắc:

– Tại sao bố lại đặt tên anh cả là Nghi Sơn, hai hai là Biện Sơn? Đó là nhân vì địa danh ở Ngọc-đường hay vì lý do vong quốc?

Đào hầu thở dài:

– Tổ tiên con trước cũng là một tướng của An Dương vương, truyền đến bố là bảy đời. Mình mất nước tới nay là 184 năm rồi. Nếu mình muốn phục quốc, phải tìm cho được hai thứ: Một là bí quyết làm nỏ của đại tướng Cao Nỗ, hai là tất cả những bí quyết võ công thời An Dương vương. Bố đặt tên cho hai anh con, là muốn nhắc nhở đến cái hận vong quốc. Còn tên con, cha muốn con nhớ đến cái hận mất đất Lĩnh-nam. Bởi tổ tiên ta gốc ở núi Kỳ, phía Nam Ngũ-lĩnh.

Đào Kỳ khẳng khái:

– Võ công của người xưa chế ra, tại sao mình không thể chế ra?

Đào hầu dắt con trở về, cha con đủng đỉnh xuống núi:

– Đã đành mình có thể chế, nhưng người xưa mất bao nhiêu tâm huyết mới tìm ra những chiêu thức bí hiểm. Nếu con học võ của tổ tiên rồi từ chiêu thức đó, biến chế thành võ học mới, sẽ đỡ tốn công hơn. Bố nghe nói, khi Vạn-tín hầu Lý Thân tự vận, có ghi chú tất cả võ công vào 200 thẻ bằng đồng. Nhưng không hiểu nay ai giữ? Còn trước khi Cao Nỗ đánh trận cuối cùng rồi tuẫn quốc, cũng có ghi chép, vẽ đồ hình nỏ thần để lại cho đời sau, nhưng nay không hiểu ở đâu?

Hai cha con đang đắm mình trong những biến cố gần 200 năm trước, thì có tiếng quát:

– Khôn hồn đứng im, nếu động đậy, ta ra lệnh buông tên.

Hai cha con giật mình nhìn xung quanh, gần 30 binh Hán, tên đặt lên cung, chỉ chờ lệnh là buông. Người chỉ huy là tên béo mập thả ban nãy. Đào hầu sợ Đào Kỳ sử dụng võ, bảo con:

– Không được chống trả.

Tên béo mập ra lệnh:

– Quăng vũ khí ra xa.

Đào hầu tháo thanh kiếm trên lưng, quăng ra xa. Tên béo mập cười ha hả:

– Phen này tụi bây có đến trăm cái đầu cũng phải rụng hết.

Triệu Thanh ra lệnh cho lính trói Đào hầu và Đào Kỳ lại rồi bắt hai cha con đi về phía một doanh trại. Đào hầu chú ý nhìn thấy đây là một doanh trại kỵ binh mới cất lên không lâu. Ông thắc mắc:

– Quân kỵ ở đâu đông thế này? Họ đến vùng này làm gì mà ta không biết?

Ông nhìn lên cột cờ ở sân thấy thêu con gấu đen thì giật mình:

– Thì ra kỵ binh ở Giao-chỉ. Vậy có biến cố gì đây?

Thời bấy giờ Thái-thú Cửu-chân là Nhâm Diên, bất hoà với Thái-thú Giao-chỉ là Tích Quang. Cho nên những người bị Tích Quang truy nã thì chạy vào Cửu-chân ẩn náu, và những người bị Nhâm Diên truy nã thì chạy ra Giao-chỉ tỵ nạn. Mỗi Thái-thú có một quân trực thuộc toàn người Hán tổng cộng 12.500 người. Mỗi quận gồm 4 sư bộ và một sư kỵ. Mỗi huyện thì có một sư hỗn hợp, cứ một người Hán lại có một người Việt.

Đào hầu thấy kỳ hiệu của thiết kỵ Giao-chỉ tiến vào Cửu-chân, làm ông nảy ra không biết bao nhiêu nghi vấn:

– Một là hai Thái-thú bất hoà với nhau, đem quân đánh nhau. Hai là có cuộc khởi binh của một trong chín Lạc-hầu, lực lượng Hán ở Cửu-chân chống không nổi phải viện thêm lực lượng Giao-chỉ.

Nhưng ông thấy điều này không đúng, vì đất Cửu-chân có chín Lạc-hầu thì năm vị đã thoả hiệp với thái-thú, hai vị thì sống xa vời với chuyện phục quốc. Chỉ còn Đào trang nhà ông với Đinh trang của em vợ ông là còn giữ nguyên chí nguyện của tổ tiên. Ông với em vợ Đinh Đại hiện chưa có động tĩnh gì đến nỗi Thái-thú Cửu-chân phải viện quân từ Giao-chỉ vào.

Đúng như quan chế hồi đó, thì Lạc-hầu còn ở địa vị cao hơn sư trưởng, nhưng thực tế thì bọn Hán quan thường dùng sức mạnh, bắt giam các Lạc-hầu, Lạc-tướng là thường. Đấy là nói quân Hán ở Cửu-chân. Huống hồ đây lại là quân Hán của Giao-chỉ gửi vào.

Triệu Thanh đưa cha con Đào hầu vào doanh trại giao cho mấy tên lính và dặn:

– Chúng bay hãy giam hai con chó Nam-man này lại, đợi ta phát lạc sau.

Mấy tên quân dẫn cha con Đào Kỳ vào một căn lều kín, bỏ đó, đóng cửa đi ra. Đào hầu bảo con:

– Có cách thoát thân rồi, con thử nghĩ xem có giống như ý bố không?

Đào Kỳ thì thầm vào tai bố:nói:

– Đợi đến đêm, bố cắn dây cởi trói cho con. Rồi con cởi trói cho bố. Bố con mình thư thả đi về.

Đào hầu nói:

– Bố đưa con ra khỏi doanh trại, con về báo cho mẹ biết, kẻo mẹ lo sợ. Còn bố thì bố trở lại dọ thám xem quân kỵ Giao-chỉ vào Cửu-chân làm gì?

Đào Kỳ nói:

– Bố nghi là phải. Con nghĩ binh lính ở Cửu-chân dư sức đánh dẹp bất cứ trang ấp nào của ta, hà cớ Thái-thú phải viện kỵ binh Giao-chỉ? Có khi y muốn tiêu diệt chín nhà chúng ta cũng nên.

Trời đã trở về chiều. Mặt trời ngả bóng, vẫn không thấy Triệu Thanh trở lại để trả thù như ước tính. Đào hầu ghé răng cắn dây cởi trói cho con.

Sau đó Đào Kỳ cởi trói cho cha. Hai người chưa kịp đứng dậy thì có tiếng chân người đi tới, rồi tiếng một tên quân Hán nói:

– Ta mang cơm cho hai con chó Việt ăn đây.

Cánh cửa mở, hai tên quân Hán bước vào. Đào hầu hô:

– Phát chưởng!

Đào Kỳ ra chiêu Loa thành nguyệt hạ, Đào hầu ra chiêu Tây vu xuất binh. Hai tên Hán bị ngã chết giấc tức thì. Đào Hầu cởi quần áo của tên to lớn mặc vào. Đào Kỳ bắt chước cha, cởi quần áo của tên nhỏ bé mặc vào, nhưng vẫn còn rộng thùng thình. Hai cha con dùng dây trói hai tên quân Hán lại rồi mở cửa lều ra ngoài. Đào hầu dẫn con hướng về phía góc doanh trại vắng người, chỉ ra ngoài nói:

– Con theo hướng này băng qua đồi thì về trang của mình được.

Đợi Đào Kỳ đi rồi, ông mới nhắm hướng đại doanh đi tới. Đại doanh là một căn lều khá lớn, bên trong có đèn nến sáng choang. Ông nép mình dưới cửa sổ nhìn vào: Bên trong có hơn mười người ngồi quanh một cái bàn, dường như đang hội họp. Ông nhận được mặt các quan chức người Hán ở Cửu-chân: Thái thú Nhâm Diên, Đô-uý Dương Hiển, Đô-sát Chu Khải và một số võ quan ông không nhận ra.

Đô-sát Chu Khải chỉ lên tấm bản đồ:

– Từ Đào trang đến Đinh trang xa khoảng 10 dậm. Trang chủ Đào trang là Đào Thế Kiệt 50 tuổi, văn võ kiêm toàn. Vợ là Đinh Xuân Hoa 40 tuổi, võ công không thua chồng là bao. Đệ tử chân truyền có ba người là Trần Dương Đức, Trịnh Quang, Hoàng Thiều Hoa, cả ba đều văn võ kiêm toàn. Thiều Hoa năm nay 18 tuổi, có vẻ đẹp quốc sắc thiên hương, khắp vùng đều biết tiếng. Thế Kiệt có ba con trai là Nghi Sơn, Biện Sơn, và Kỳ. Hai người lớn thì võ công tuyệt thế, đứa nhỏ mới 13 tuổi, nhưng văn võ đều thông. Đệ tử ngoại đồ 88 người, tráng đinh 500, phụ nữ biết võ 200. Dân chúng trong trang gồm 1.200 nóc gia, tổng cộng 6.300 người. Lương thực, lừa ngựa đầy đủ. Người trong trang được tổ chức thành đội ngũ chỉnh tề.

Thái-thú Nhâm Diên hướng vào một võ quan trẻ nói:

– Từ khi thuộc hạ về đây trấn nhậm nhận thấy một điều khó khăn nhất là tất cả dân chúng đều quy tụ vào chín Lạc-hầu. Mà chín Lạc-hầu đều là con cháu của đám di thần Âu-lạc. Đám này nhận di ngôn của Thục Phán ẩn náu chờ thời, phản Hán phục Việt, cho nên mối nguy nổi loạn không biết sẽ nổ ra lúc nào.

Ngừng một lúc y nói tiếp:

– Mấy năm trước đây bên Trung-nguyên chúng ta xảy ra vụ Vương Mãng cướp ngôi, thiên hạ tao loạn, phân năm xẻ bảy. Thuộc hạ không quy phục Vương Mãng. Vương Mãng mấy lần định mang quân sang hỏi tội. Bọn Lạc-hầu, Lạc-tướng thấy vậy rục rịch định nổi loạn. Ty chức biết trước vội vàng ban hành pháp lệnh năm điều để làm tan thế đoàn kết của bọn chúng.

Đô-uý Chu Khải hỏi:

– Chúng ta là người Hán, đi cai trị bọn Nam-man. Nếu chúng nó nổi loạn thì mang quân đi dẹp, há sợ gì? Tại sao đại nhân phải ban hành pháp lệnh làm gì cho mệt.

Nhâm Diên nói:

– Đô-uý biết một mà không biết hai. Dân chúng Cửu-chân đều quy tụ vào chín nhà, nếu chúng ta dẹp hết chín nhà, thì Cửu-chân chỉ còn là bãi đất hoang. Cho nên bản nhân mới theo Tôn-tử binh pháp: “Dụng binh chi đạo, toàn quân vi thượng, phá quân thứ chi”

Nghĩa là: Đạo dùng binh cần bảo vệ lấy quân hơn là tổn hại quân sĩ. Cho nên thuộc hạ chỉ dùng có một tờ giấy, viết năm điều pháp lệnh, mở rộng cho người Hán, người Việt được bình đẳng, được kết hôn với nhau, lại cho người Việt làm quan chức, dạy chữ thánh hiền, lễ nghĩa cho chúng…

Một võ quan dáng người uy nghi, còn trẻ ngồi ghế chủ toạ nói:

– Tuyệt! Chúng ta là con cháu Văn-vương, Chu-công, Khổng-tử. Nhà Đại Hán coi thần dân như con đỏ. Thái-thú ban pháp lệnh cho người Việt được như người Hán, cho người về Trung-nguyên mượn những nho gia khoa bảng thất thời sang đây dạy dỗ họ, đúng như Khổng-tử nói “Giáo bất biệt hoại”, nghĩa là khi dạy học thì không phân biệt giống người. Làm như vậy vừa được âm đức vừa làm sáng nghĩa của Khổng Mạnh.

Đào Thế Kiệt cố moi óc xem võ tướng trẻ tuổi này là ai, nhưng ông đoán không ra. Cứ thấy dáng điệu đường bệ của y và cung cách lễ phép của Nhâm Diên, ông cũng đoán sơ rằng viên võ quan này có địa vị không nhỏ.

Nhâm Diên nói:

– Thuộc-hạ không thực tâm như vậy, chẳng qua là muốn tâm chiến giai đoạn mà thôi. Thuộc hạ còn ký lệnh phong cho năm Lạc-hầu làm Huyện-úy. Thế là từ đấy, quan binh Hán cứ ngồi chơi, người Việt gây loạn thì dùng huyện úy người Việt mang bản bộ quân mã cũng là người Việt đi đánh. Cho nên pháp lệnh ban ra mấy năm, đi đâu cũng chỉ nghe bàn đến Tam-hoàng, Ngũ-đế, Chu-công, Văn-vương, Khổng-tử mà không hề nghe nói đến Hùng-vương. Lúc trà dư tửu hậu người a chỉ nói trận Cai-hạ, Hạng Võ bị thua, tự tử ở Ô-giang, mà không nghe thấy nói đến Hùng-vương đại chiến An-dương vương. Trẻ con học về trận chiến giữa Hoàng-đế với Suy Vưu mà không học về trận chiến giữa An-dương vương với Đồ Thư. Dân chúng chỉ biết cái nhục bị Tần Thuỷ-hoàng cai trị, mà quên mất cái hận Cổ-loa bị Triệu Đà phá. Nam nữ thanh niên chỉ còn biết đến diễm tình của Tiêu Sử với Lộng Ngọc mà quên chuyện Trương Chi Mỵ Nương.

Ngừng lại một lúc y nói:

– Chín Lạc-hầu, không cần đánh, mà năm người trở thành đầy tớ của ta. Thuộc hạ lại tìm cách nay khen ngợi, mai ban thưởng, khiến cho hai Lạc-hầu mãi mê với việc phát triển văn hoá Trung-nguyên, mà xa lìa cái gọi là phản Hán phục Việt. Rút cục chỉ có Đào trang và Đinh trang là còn giữ nguyên. Cho nên thuộc hạ cần phải ra tay tiêu diệt.

Viên võ quan trẻ lại hỏi:

– Nhâm Thái-thú đã từng nêu cao nhân nghĩa bấy lâu, thì nay cũng phải truyền một hịch để kể tội Đào, Đinh, thì ta ra quân mới được dân chúng tôn phục. Vậy Nhâm Thái-thú đã tìm ra tội trạng gì của hai trang chưa? Tôi nghĩ rằng ra quân đánh người vô lý, thứ nhất là ác độc, dã man vô nhân đạo, thứ nhì là thất nhân tâm.

Đô-uý Cửu-chân Dương Hiển nói:

– Lĩnh Nam công xuất thân là người nghĩa hiệp nên mới đưa ra ý kiến đó. Nhưng ý của Thái-thú đại nhân là đánh Đào, Đinh trang, sẽ khiến cho các trang kia sợ hãi không dám trở lại phản Hán phục Việt nữa.

Đào hầu nghe bọn Hán quan bàn luận đánh trang ấp của mình, bất giác ông rùng mình nghĩ:

– Thì ra tên tướng trẻ này là Nghiêm Sơn, tước phong Lĩnh-nam công, lĩnh chức Bình-nam đại tướng quân. Y là người đã xả thân đánh nhau với võ sĩ Vương Mãng 20 trận, bị thương 15 lần, cứu Quang Vũ, cùng Quang Vũ phất cờ dựng lại nhà Hán. Y được Quang Vũ giao cho toàn quyền sáu quận Lĩnh-nam là Nam-hải, Tượng-quận, Quế-lâm, Giao-chỉ, Cửu-chân và Nhật-nam. Thì ra Nhâm Diên nhờ Lĩnh-nam công mang quân vào diệt trang ấp của mình với Đinh sư đệ. May mà mình biết trước.

Thái-thú Nhâm Diên tiếp:

– Thuộc hạ mới trình văn lên Bình-nam đại tướng quân, để làm sao đánh một trận, diệt được hai trang. Do vậy hôm nay Lĩnh-nam công đại nhân mới mang thiết kỵ từ Giao-chỉ vào trợ chiến. Thuộc hạ định kế sách như thế này:

Thứ nhất, Đô-úy Cửu-chân Dương tướng quân chỉ huy đánh Đinh trang.

Thứ nhì, thuộc hạ chỉ huy đánh Đào trang.

Thứ ba, Đô sát Cửu-chân Chu tướng quân chặn đường rút lui của giặc về phía Nhật-nam.

Ngày mai thuộc hạ sẽ đạt thư mời Đào Thế Kiệt, Đinh Đại đến phủ Thái-thú ăn tiệc, rồi tìm cách giữ lại cho đến chiều. Trong khi đó thì sáng sớm Dương Đô-úy cho bao vây Đinh trang: Sư số 1 mặt Đông, Tây, sư số 2 phục ở đèo phía Nam. Sư kỵ thì tấn công vào phía Bắc. Giặc thấy trống mặt Nam tất chạy qua đèo Đôn-dương, sư số 2 dùng cung tên tiêu diệt. Cùng lúc đó thì chính thuộc hạ đánh Đào trang. Sư số 3 bao vây mặt Tây, Nam không cho chúng liên lạc với Đinh trang. Sư số 4 bao vây mặt Đông. Sư kỵ Giao-chỉ tấn công mặt Bắc. Trong lúc thuộc hạ giữ Đào Thế Kiệt, Đinh Đại ở phủ thì các vị bao vây hai trang. Thuộc hạ sẽ ép hai tên Đào, Đinh đầu hàng, giải tán trang của chúng. Nếu chúng biết điều quy phục, thì chúng ta chỉ việc tiến quân vào trong trang cử người thay chúng làm Lạc-hầu. Còn chúng không chịu đầu hàng thì thuộc hạ sẽ đốt pháo lệnh, các vị cho tấn công.

Đô-sát Cửu-chân Chu Khải hỏi:

– Trường hợp chúng đầu hàng thì giải quyết gia đình chúng ra sao?

Nhâm Diên tủm tỉm cười:

– Cho mỗi gia đình một cái thuyền lớn, nội ngày phải ra đảo Nghi-sơn ở. Thuyền tôi đã cho cắt đai, đục lỗ sẵn, khi ra khơi bị sóng đánh chìm ngay.

Nghiêm Sơn không đồng ý:

– Người ta đã đầu hàng, mà còn giết tuyệt như vậy, đâu có đạo nghĩa gì?

Nhâm Diên liếc ngang mắt, không dám hỏi gì.

Nghiêm Sơn nói:

– Nếu họ đầu hàng thì ta vẫn để cho họ làm Lạc-hầu. Được một hào kiệt đầu hàng còn hơn được một trăm tên xu phụ.

Chương 2: Thuở Trời Đất Nổi Cơn Gió Bụi

Đào-hầu biết có nghe thêm nữa cũng vô ích. Ông lẩn ra phía sau doanh trại, vọt qua hàng rào, dùng khinh công chạy thẳng về Đào-trang. Vừa vào tới trang, ông cho gọi các con và đệ tử đến sảnh đường. Đào phu nhân họ Đinh, xuất thân là người đồng môn với Đào-hầu. Võ công của bà không thua gì chồng. Bà kết hôn với Đào-hầu đã 24 năm, vợ chồng tâm hợp ý đồng, lấy việc dạy học trò, quy tụ dân chúng, mở mang ruộng vườn làm mục đích cho cuộc sống. Trong thời gian dài chung sống, bà biết rằng dù gặp chông gai bão táp đến đâu, ông cũng bình tĩnh giải quyết. Nay thấy ông trầm tư, rồi tập họp con cái, học trò khẩn cấp, bà biết đại biến cố đã đến.

Sáng hôm nay, Đào-hầu nói vơí bà rằng ông dẫn đứa con út là Đào Kỳ dạo chơi bãi biển, xem dân chúng đánh cá. Thế rồi buổi trưa không thấy chồng con về ăn cơm, linh tính báo cho bà biết có sự không may sẽ xảy ra. Chiều mới thấy Đào Kỳ trở về nói với bà rằng Đào-hầu và nó bị bắt. Đào hầu ở lại dọ thám. Nghe con thuật, Đào phu nhân tỏ vẻ bực tức, vì thời bấy giờ tuy bị người Hán cai trị, nhưng chồng bà là một Lạc-hầu, chỉ Thái-thú mới có quyền bắt giữ. Thế mà nay một võ quan cấp Lữ, bắt giam ông. Bây giờ thấy chồng trở về, mặt đầy vẻ nghiêm trọng, bà không kiên nhẫn được nữa, hỏi:

– Có tai vạ lớn rồi ư?

Đào-hầu gật đầu:

– Hơn thế nữa!

Ông gọi đại đệ tử là Trần Dương Đức bảo:

– Con xuống tầu, chuẩn bị hai con ngựa, mang theo kiếm chờ sư phụ ở sân để cùng đi Đinh trang.

Ông bảo con cả là Nghi Sơn:

– Con điều khiển tráng đinh, đệ tử phòng vệ, tuần tiễu trong trang thực nghiêm mật. Chỉ cho người vào mà không cho người ra. Ai không tuân, giết tại chỗ, kể cả đệ tử trong nhà.

Ông bảo con thứ là Biện Sơn:

– Con đánh trống tập họp đệ tự ở đại sảnh đường, xong vào báo cho bố biết.

Ông tường thuật sơ lược mọi chuyện cho phu nhân nghe rồi kết luận:

– Ta quyết định bỏ đất này chạy ra Giao-chỉ. Cách đây năm năm, dự đoán tình thế khó yên, ta đã cho em là Đào Thế Hùng mang gia đình ra Cổ-loa lập nghiệp trước, nay chúng ta ra đó thì đã có cơ sở rồi. Vậy phu nhân cho tỳ nữ chuẩn bị những thứ gì tối cần thiết hãy mang theo. Chúng ta phải đi ngay đêm nay mới kịp.

Biện Sơn vào thưa:

– Thưa bố, các đệ tử đã tề tựu đông đủ.

Đào hầu theo con vào đại sảnh đường. Các đệ tử chắp tay hành lễ. Ông ra hiệu miễn lễ rồi nói:

– Tổ tiên ta xây dựng cơ nghiệp này đã được bảy đời, cộng 184 năm. Ngày nay Đào trang gặp tai biến. Thái– thú Nhâm Diên tập trung 15.000 quân để đánh hai trang Đào, Đinh vào ngày mai. Đệ tử Cửu-chân chúng ta không hèn, nhưng Đào trang chúng ta chưa tới 600 người mà phải địch với 7.500 người có tổ chức thì chỉ là một cuộc tự tử vô ích. Bởi vậy ta quyết định đi lánh nạn. Ta gọi các con lên đây, để cho các con được lựa chọn: Ở lại hay theo ta, tuỳ các con.

Tam đệ tử là Hoàng Thiều Hoa nói:

– Chúng con nguyện theo sư phụ tới cùng. Nhưng…

Đào Thế Kiệt vốn sủng ái cô nữ đệ tử này, ông hỏi:

– Con muốn nói nhưng gì?

Hoàng Thiều Hoa tỏ ý chí cương quyết:

– Mình không phạm pháp, sư phụ lại là một Lạc– hầu, tự nhiên Thái-thú Nhâm Diên đem quân đánh phá trang ấp mình, không lẽ mình chịu nhục như vậy sao?

Các đệ tử cùng nhao nhao lên:

– Chúng con cương quyết không chịu nhục.

Đào hầu hỏi các đệ tử:

– Ý các con muốn thế nào?

Hoàng Thiều Hoa cương quyết:

– Con nghĩ, trước khi rút lui khỏi đất này, chúng ta phải đánh cho Nhâm Diên một trận kinh thiên động địa để chúng ghê mặt anh hùng Lĩnh Nam.

Đào phu nhân nuôi Thiều Hoa từ nhỏ, bà không có con gái, nên rất cưng chiều cô nữ đệ tử này. Bây giờ trước cảnh trang ấp sắp gặp nguy nan, nàng tỏ chí khí hùng tráng, bà thấy đẹp lòng, tát yêu nàng:

– Được, chúng ta phải làm như thế.

Bà nói vơí hầu:

– Tôi thấy Thiều Hoa có lý. Ta đánh một trận, rồi hãy bỏ đi.

Đào hầu gật đầu ra lệnh:

– Các đệ tử hãy dồn tất cả đàn bà, trẻ con, người già không biết võ đến đây ngay. Nội một giờ phải xong.

Ông ra lệnh cho tam đệ tử Hoàng Thiều Hoa:

– Con theo sư mẫu, bảo vệ đoàn xe cho đàn bà, trẻ con xuống bến chài, chạy ra đảo Nghi-sơn, chờ sư phụ ở đó.

Ông ra lệnh cho con trưởng:

– Con dẫn 100 tráng đinh ra phục trên đường dẫn tới bờ biển. Chờ cho xe cho đàn bà, trẻ con xuống thuyền, ra khơi rồi, con cùng Thiều Hoa bảo vệ đoàn thuyền đến đảo Nghi-sơn ngay.

Ông không thấy nhị đệ tử Trịnh Quang đâu, hỏi:

– Nhị sư huynh đâu?

Đào Kỳ đáp:

– Nhị sư huynh về đón gia đình rồi.

Ông ra lệnh cho con thứ là Biện Sơn:

– Con dẫn 50 sư huynh đệ thuộc ngoại đồ, cùng 200 tráng đinh, chia làm hai đội, men theo bờ biển đến cảng Bắc, phục đấy. Đợi khi thấy lửa cháy ở phủ Thái-thú thì đánh cướp chiến thuyền. Tại cảng Bắc có năm chiến thuyền, con cho ba chiếc chạy ra đảo Nghi-sơn đón người của Đào, Đinh trang ở đó. Vì tất cả đã đến bằng thuyền đánh cá. Thuyền đánh cá nhỏ quá, không thể ra xa. Muốn vượt biển, phải dùng chiến thuyền. Con giữ hai chiếc cho ta với anh Nghi Sơn. Nếu giặc đến tiếp cứu đông quá, chống không nổi, thì con cứ ra khơi trước. Chúng ta sẽ tìm đường khác rút lui.

Biện Sơn hỏi:

– Trường hợp phải đi trước, thì hẹn nhau tại đâu?

Đào hầu ghé tai con dặn nhỏ mấy câu, rồi vẫy tay, ra hiệu coi như hết.

Đào Kỳ không thấy bố sai phái, nó hỏi:

– Con sẽ phải làm gì?

Đào hầu nói:

– Con còn nhỏ tuổi, nhưng võ công cũng như kiến thức không tầm thường, con đi với tam sư tỷ, nhưng mọi sự phải nghe tam sư tỷ.

Ông đứng lên nói lớn:

– Thi hành lệnh ngay.

Ông ra sân, cùng đại đệ tử Trần Dương Đức lên ngựa, ra roi lao vào đêm tối, mịt mờ. Hai người vốn quen đường, nên dù đêm tối cũng không sợ lạc. Đào trang, Đinh trang không xa cho lắm, nên chỉ lát sau hai thầy trò đã tới nơi. Tráng đinh mở cổng, đánh ba tiếng trống báo có khách. Trang chủ Đinh Đại ra đón khách, thấy anh rể thì mừng lắm, kêu lên:

– Tỷ phu, anh tới có việc gì khẩn mà đi đêm như vậy?

Đào hầu ngoắc tay ngụ ý bảo im lặng, rồi tiến vào sảnh đường. Ông ngồi xuống ghế tường thuật tỉ mỉ những điều đã nghe thấy ở trong dinh kỵ binh Giao-chỉ cho Đinh Đại nghe.

Đinh Đại trầm ngâm một lúc rồi hỏi:

– Anh nghĩ coi, có cách nào khác không? Hàng cũng chết, mà chạy thì chạy đi đâu bây giờ?

Đào hầu nói:

– Hiện giữa Thái-thú Giao-chỉ là Tích Quang và Thái-thú Cửu-chân là Nhâm Diên đang có hiềm khích, chúng ta chạy ra ngoài Giao-chỉ ẩn thân vậy, chứ người hai trang của chúng ta không thể nào địch lại với mười lăm nghìn quân Hán. Ta đã biết kế hoạch của Thái-thú, thì tương kế tựu kế, có sợ gì? Hiện lực lượng trong trang của đệ có bao nhiêu người?

Đinh Đại nói:

– Vợ em không biết võ. Em chỉ có một đại đệ tử là Quách Lãng, bản lãnh cũng vào loại khá, có thể dùng được. Hai đứa con gái là Bạch Nương, Tĩnh Nương, đứa lớn 20 tuổi, đứa nhỏ 18 tuổi, văn võ kiêm toàn. Đệ tử ngoại đồ 97 người, tráng đinh 400, đàn bà biết võ 150.

Đào Thế Kiệt suy nghĩ một lúc rồi quyết định:

– Giặc vốn chỉ muốn hại hai chúng ta, rồi đưa người khác lên làm Lạc-hầu. Vậy chúng ta mang hết người đi, thì dù chúng có chiếm được Đào, Đinh trang, thì chỉ chiếm được hai trang trại hoang vu.

Đinh Đại vừa là em vợ, vừa là sư đệ của Đào Thế Kiệt, ông phục tùng Đào-hầu đã quen. Ông nói:

– Tất cả đều do anh quyết định.

– Được, em tập trung đệ tử lại đi.

Đinh Đại ra lệnh đánh trống tập họp đệ tử vào đại sảnh. Ông cùng Đào-hầu bước vào. Các đệ tử đứng dậy chắp tay hành lễ:

– Đệ tử tham kiến sư bá và sư phụ.

Đinh-hầu ra lệnh cho miễn lễ, rồi nói:

– Lần đầu tiên sư phụ họp các con khẩn cấp như thế này bởi Đinh trang sắp có tai vạ lớn. Ta nghĩ: Thầy trò thì sống chết có nhau, nên dù biến cố nào chăng nữa, ta cũng mang các con đi theo. Ta nói cho các con biết, Thái-thú Nhâm Diên tập trung 15.000 quân để tiêu diệt Đào, Đinh trang trong ngày mai. Nếu chúng ta chống lại chúng thì chết hết vô ích. Vì vậy ta quyết định bỏ chạy. Vậy những ai muốn theo ta, những ai muốn ở lại?

Tất cả các đệ tử đồng hô lớn:

– Chúng con xin theo sư phụ.

Đào-hầu nói:

– Chúng ta phải giữ cơ mật mới được. Những ai chưa có vợ con thì ở lại đây. Còn ai có vợ con rồi, thì trở về đón vợ con đến đây ngay, nội một giờ phải xong. Chỉ cần mang theo vũ khí, áo quần là đủ. Đồ tế nhuyễn, nhất thiết không cần mang theo.

Ông quay lại ra lệnh cho Đinh Bạch Nương và Đinh Tĩnh Nương:

– Hai cháu cho chuẩn bị xe ngựa sẵn, đợi các đệ tử tập trung đàn bà, trẻ con, thì cho lên xe ra biển. Tất cả xuống thuyền, chạy ra đảo Nghi-sơn. Ở đó lên chiến thuyền, rồi đi tỵ nạn.

Ông dặn Quách Lãng:

– Cháu chỉ huy tráng đinh đi vòng quanh trang tuần tiễu, gặp người lạ mặt, bắt vào giao cho sư phụ cháu.

Ông dặn với Đinh Đại:

– Bây giờ giặc còn đang ngủ, nếu được tin báo chúng ta tháo chạy, muốn tập hợp quân lính cũng không kịp. Tuy vậy sư đệ dẫn một số tráng đinh phục trên đường ra biển, để phòng địch đánh bất ngờ.

Đào hầu truyền lệnh xong, cùng đại đệ tử lên ngựa phi trở về Đào trang. Hai người vừa đi được một quãng thì gặp bốn kỵ mã, lưng đeo vũ khí đứng chặn mất lối đi. Ông nhìn kỹ thấy có hai người mặc theo lối quân Hán, còn hai người mặc theo lối người Việt. Biết đây là bọn Tế– tác dò thám, ông bảo Trần Dương Đức:

– Giết chúng nó, đoạt ngựa, quần áo.

Dương Đức phi ngựa tới trước. Hai Hán quân quát lớn:

– Dừng ngựa!

Miệng nói tay múa đao chém về phía trước. Dương Đức rút kiếm khoa ngang, hai thanh đao của chúng bay tung lên trời. Chúng còn đang ngơ ngác thì đầu đã rơi xuống đất. Hai tên Việt đứng cạnh sợ quá há hốc mồm ra, chưa kịp trở tay, đã bị Đào hầu đánh hai chưởng văng xuống đất dãy mấy cái, rồi nằm im.

Hai thầy trò lột quần áo của hai tên Hán, khám trong người thấy có thẻ bài chứng nhận chúng làm việc tại phủ Tế-tác cấp bậc là ngũ trưởng.

Hai người hướng phủ Thái-thú phi như bay.

Tại Đào trang, khi Đào hầu với Trần Dương Đức đi khỏi, thì gia đình của đám đệ tử đã lên xe, đồ đạc lênh kênh một đoàn hướng bờ biển tiến phát.

Đào Kỳ tìm không thấy nhị sư huynh, nói với Thiều Hoa:

– Sư tỷ đi trước, em với 20 tráng đinh ở lại đợi nhị sư huynh.

Thiều Hoa chia cho Đào Kỳ 20 tráng đinh rồi lên đường. Đào Kỳ thấy bố mẹ, sư huynh, sư tỷ đã đi hết, tự nhiên nó cảm thấy mình là người lớn nhất, dẫn đám gia đinh canh cửa trang.

Nhưng nó chờ đến canh ba, mà vẫn không thấy nhị sư huynh đâu. Lòng đầy lo sợ, nó tự nghĩ:

– Dù gì ta cũng phải chờ nhị sư huynh và gia đình để cùng đi.

Hốt nhiên có tiếng vó ngựa lộp cộp đi lại. Nó nhảy xuống đất ghé tai nghe và đếm:

– Một… hai… ba… mười. Trời ơi, 10 kỵ mã tới, đúng là quân Hán rồi đây.

Nó vẫy tay cho tráng đinh phục trong trang, rồi nhìn ra: Phía trước quả có 10 kỵ binh đang đi tới. Hai người đi đầu là Mã Dũng và Triệu Thanh mà nó đã đánh nhau hồi chiều. Nó cười khỉnh:

– Chắc hai thằng này vào nhà tù kiếm cha con ta không thấy, nên dẫn kỵ binh đi tìm đây. Đã vậy tao cho chúng mày nếm mùi đau khổ.

Nó thò tay ra sau rút tên nạp vào cung, nhắm con ngựa Mã Dũng cưỡi buông tên. Vèo một tiếng, con ngựa bị trúng tên, đau quá nhảy dựng hai vó trước lên rồi ngã lăn ra. Mã Dũng vội thúc chân vào bàn đạp, vọt người lên đứng xuống đất chửi đổng:

– Đứa nào bắn lén? Nếu là anh hùng thì xuất hiện cùng ta đấu 100 hiệp.

Đào Kỳ cười ha hả, từ trong cổng bước ra chỉ vào mặt Mã Dũng:

– Hồi chiều, chúng mày được tao tha chết, lạy như lạy ông nội. Thế mà không biết điều, về dẫn lính ra phục kích. Chúng mày bắt được tao mà sao ngu quá, không giữ được, để tao thoát thân?

Triệu Thanh vẫy tay, tám kỵ binh vây Đào Kỳ vào giữa. Đào Kỳ không sợ hãi:

– Mày có giỏi thì xuống ngựa, một chơi một, chứ dùng đông người đánh mình tao đâu phải anh hùng?

Triệu Thanh không để lời nói Đào Kỳ vào tai, cùng đám kỵ binh múa đao tấn công. Đào Kỳ rút kiếm nhắm đỉnh đầu Triệu Thành xả một nhát. Triệu Thanh đưa đao đỡ. Đao kiếm sắp chạm nhau, thì lưỡi kiếm Đào Kỳ bỗng đổi chiêu biến thành vòng cầu chém vào hông y. Triệu Thanh kinh hoàng, lộn người xuống đất tránh thế kiếm hiểm ác đó, thì thanh kiếm của Đào Kỳ chém xuống trúng giữa đầu con ngựa của y. Con ngựa đau quá, hí lên một tiếng thê thảm rồi đâm bổ về phía trước. Vòng vây mở rộng, Đào Kỳ chạy vào rừng cạnh đó. Triệu Thanh, Mã Dũng cùng ôm đao đuổi theo. Đào Kỳ vấp vào hòn đá, ngã lăn xuống đất. Triệu Thanh thích quá, nhảy lại gần dí đao vào cổ Đào Kỳ quát lớn:

– Này hết sống nhé!

Thực ra Đào Kỳ giả bộ vấp té, chờ khi Triệu Thanh đến gần, dí đao vào cổ, nó bật người dậy, vọt lên cao như con cá, cỡi trên mình ngựa, thuận tay rút kiếm đâm về sau một chiêu, kết thúc tính mệnh một tên kỵ binh đang đánh tập hậu nó.

Mã Dũng, Triệu Thanh xuất thân là kỵ binh, quen đánh trên mình ngựa, bây giờ mất ngựa, chân tay trở thành luống cuống. Đào Kỳ phi ngựa chạy vào trang. Đám kỵ binh hô lên một tiếng đuổi theo, khi chúng vừa vào đến cổng thì huỵch, huỵch, huỵch, ngựa vấp dây chăng ngã lăn, hất đám kỵ binh xuống đất. Đám tráng đinh từ chỗ núp nhảy giết hết đám kỵ binh, rồi cắt đầu treo lên cổng trang.

Đào Kỳ đang hứng chí, thì thấy lửa bốc lên ngập trời tại phía phủ Thái-thú. Nó biết cha và anh đánh chiếm cảng Bắc, vội cùng đám gia nhân lên ngựa chạy ra bờ biển, thì cuộc di tản bằng thuyền gần hoàn tất.

Đào phu nhân bảo Nghi Sơn:

– Mọi việc đến đây là yên rồi. Hiện các đội kỵ binh của Cửu-chân đóng ở phía Nam 50 dặm. Chúng có điều động đến cứu ứng thì cũng phải tới sáng. Ta chỉ lo đội kỵ binh Giao-chỉ đóng cách đây không xa. Chúng thấy phủ Thái-thú bị tấn công, tất kéo tới cứu viện. Vậy con dẫn huynh đệ, tráng đinh, phục trên đồi An-tuy, để đề phòng. Nếu thấy kỵ binh Giao-chỉ tới thì dùng tên bắn, và đốt lửa làm nghi binh. Con cố ý chần chờ hầu bố con có thì giờ cướp chiến thuyền.

Hoàng Thiều Hoa nói với Đào phu nhân:

– Sư mẫu, việc bảo vệ gia đình là hệ trọng. Con với tiểu sư đệ đi chặn giặc cũng đủ rồi. Đại sư ca trí dũng hơn đời, cần ở đây giúp sư mẫu.

Đào phu nhân thấy lời Thiều Hoa đúng, bà bảo Đào Kỳ:

– Sư tỷ võ công cao, nhưng ứng biến không bằng con. Vậy mọi chuyện nhất thiết con lo ứng phó, nhưng phải nghe lời sư tỷ.

Đào Kỳ thấy mẹ coi trọng mình nó thích lắm. Nó nhảy vọt lên ngựa, cùng Thiều Hoa hướng về An-tuy. Nó kiếm chỗ cho huynh đệ, tráng đinh mai phục. Nó lại chỉ huy tráng đinh khuân đá chất lên cao, khi cần sẽ vần đá xuống cản giặc.

Công việc hoàn tất mau chóng, Đào Kỳ đến ngồi bên sư tỷ Hoàng Thiều Hoa. Các đệ tử Đào trang, nam có, nữ có, nhưng Đào Kỳ sủng ái nhất là tam sư tỷ. Bản tính Thiều Hoa ôn nhu văn nhã, học văn võ đều thành đạt, được cả sư phụ, sư mẫu thương yêu. Nàng nói gì Đào hầu cũng nghe, xin gì cũng cho. Mỗi khi Đào Kỳ nghịch ngợm, phá phách, nó bị cha la rầy, thì Thiều Hoa lại năn nỉ dùm. Riết rồi chị em thành thân mật. Hôm nay biến cố trọng đại xảy ra, nhà tan cửa nát. Bố mẹ, các anh, các sư huynh lăn mình vào chốn nguy hiểm, nó lại được ngồi bên cạnh sư tỷ chờ giặc.

Đào Kỳ nói sẽ vào tai Thiều Hoa:

– Em chỉ mong bây giờ có một tên tướng Hán đẹp trai, hào hoa phong nhã tới đây, chúng mình khỏi cần đánh, chị chỉ việc liếc mắt một cái, nó cũng té lăn xuống đất rồi. Như vậy khỏi phải đổ máu.

Thiều Hoa lấy tay sẽ cốc vào đầu Đào Kỳ một cái:

– Đến lúc này mà em cũng đùa được ư?

Với bản lĩnh của Đào Kỳ thì nó tránh cái cốc của Hoàng Thiều Hoa dễ dàng. Nhưng nó cứ để cho sư tỷ cốc, nó tiếp:

– Tại sao sư tỷ cốc em? Binh thư nói rằng “Không đánh mà thắng, không tổn nhân mạng mà thắng, không tổn lương tiền mà thắng thì là đại tướng giỏi”. Nếu sư tỷ gặp tướng Hán, đưa mắt một cái cho nó hồn phiêu phách tán, thì sư tỷ đã trở thành đại tướng Lĩnh Nam rồi.

Thiều Hoa định nói thì Đào Kỳ bịt miệng nàng lại, ghé miệng vào tai “suỵt” một tiếng. Thiều Hoa lắng tai nghe, quả có nhiều tiếng lộp cộp như tiếng ngựa phi. Tiếng lộp cộp mỗi lúc một gần. Đào Kỳ ghé tai xuống đất nghe rồi đếm: một… hai… ba…, ôi nhiều lắm, cả 100 ngựa đang tiến đến chỗ nó ẩn.

Một lát sau, đoàn người ngựa đi tới, đuốc đốt sáng lòa. Đào Kỳ đợi cho đoàn người ngựa tới gần, mới phất tay ra hiệu. Tráng đinh bắn tên lửa vùn vụt về phía trước. Cỏ rừng bốc cháy ngùn ngụt. Đội quân đang đi, ngừng lại, dàn ra chờ. Viên tướng chỉ huy gò ngựa quan sát một lúc, không thấy động tĩnh gì, y phất tay cho quân tiến lên. Vừa lúc đó, một mũi tên xé gió bay tới. Y lạng người bắt lấy. Tuy bắt được tên, nhưng y cảm thấy cánh tay tê buốt. Biết người bắn không phải thứ binh lính tầm thường mà là một cao thủ có nội lực, tiếng tên mới rít lên như vậy. Y cầm mũi tên lên coi, thấy chuôi tên khắc một bông cúc, nét chạm trổ hoa mỹ. Y lớn tiếng hỏi:

– Cao nhân nào xin xuất hiện để tương kiến.

Nhưng không có tiếng trả lời. Vèo, một mũi tên khác xé gió bay tới, rồi hai, rồi ba, rồi bốn mũi nối đuôi nhau. Y tung người khỏi yên ngựa, ba mũi tên bay sát qua dưới chân y. Một mũi trúng giữa trán con ngựa. Con ngựa đau quá hí lên một tiếng, rồi ngã lăn ra đất giãy đành đạch. Viên tướng Hán kinh hoàng nghĩ:

– Người bắn tên dường như không có ý hại mình, nếu không thì vừa rồi, lúc mình còn ở trên không y bắn mấy mũi nữa thì mình chết rồi.

Phía sau có tiếng người rú lên, tiếng người ngã ngựa, tiếng người la hoảng. Y nhìn lại, thì ra ba mũi tên không trúng người y, bay ra sau trúng vào ba kỵ mã. Kỳ lạ ở chỗ ba kỵ mã đều bị trúng giữa cổ, chết ngay lập tức.

Y toát mồ hôi nghĩ:

– Người bắn tên này tiễn thủ không phải tầm thường. Nội lực không kém gì mình. Rõ ràng y không muốn sát hại mình, chứ không thì mình đã chết rồi.

Y nhảy xuống đất, nhổ tên ra coi, thì thấy ba mũi tên bắn chết kỵ mã phía sau trên chuôi đều khắc bông hoa cúc. Mũi tên bắn trúng ngựa của y thì trên có khắc bông hoa đào, tô son đỏ chói. Y cầm mũi tên để đoán tung tích kẻ bắn, thì thấy bốn mũi tên khắc bông cúc, toả ra mùi thơm thoang thoảng, làm y cảm thấy say say:

– Chắc người bắn tên này là một giai nhân? Nếu không sao lại có mùi thơm nhẹ nhàng thoảng qua?

Quả đúng như vậy, người bắn mũi tên vào người y đầu tiên là Thiều Hoa. Mũi tên bắn trúng ngựa y là của Đào Kỳ. Biểu hiệu của Thiều Hoa là bông cúc, nên trên kiếm cũng như trên mũi tên đều khắc bông cúc. Còn Đào Kỳ thì lấy biểu hiệu chung của cha, anh trên tên khắc bông đào.

Viên tướng chỉ huy đội quân quát lớn:

– Ta là Nghiêm Sơn, xuất thân nghĩa hiệp. Trọn đời kính trọng những anh hùng hảo hán. Vậy cao nhân nào đó xin xuất hiện để được tương kiến.

Vèo, vèo, vèo, một bóng mặc áo vàng đã nhảy đến trước mặt Nghiêm Sơn. Y định thần nhìn kỹ thì là một nữ lang tuyệt thế. Y chưa kịp phản ứng, thì thấp thoáng một cái nữ lang đã rút kiếm đâm y. Động tác, nhảy, đứng, rút kiếm đâm, thần tốc vô song. Y trầm người tránh, đưa đao đỡ. Đao kiếm chạm nhau toé lửa. Cả hai cùng lùi lại. Hổ khẩu y cảm thấy tê chồn. Nữ lang đã tra gươm vào vỏ, khoanh tay đứng nhìn y:

– Tiểu nữ họ Hoàng, tên Thiều Hoa xin kính chào Nghiêm tướng quân.

Nghiêm Sơn tuổi còn trẻ, khoảng 25-26, rất anh tuấn, võ công thuộc loại cao thủ vùng Quế-lâm. Chàng hiện là Bình Nam đại tướng quân, tước Lĩnh Nam công, uy quyền bao trùm toàn Lĩnh Nam như một ông vua con. Nghiêm Sơn tự hào là anh hùng vô địch, từ khi sang Giao-chỉ đến giờ, chưa một người Hán, người Việt nào địch nổi y. Không ngờ trong đêm nay chàng gặp một thiếu nữ Việt tuyệt sắc, bắn mấy mũi tên, mà một mũi làm chàng suýt bỏ mạng. Cảm phục vì tài, trọng vì sắc, chàng hướng vào Thiều Hoa đáp lễ:

– Thì ra Hoàng cô nương. Không biết cô nương đối với Đào Lạc-hầu là thế nào?

Thiều Hoa đáp:

– Đào tiên sinh là minh sư của tiểu nữ.

Nghiêm Sơn reo lên:

– Người xưa nói “Hữu minh sư, tất hữu cao đồ”. Nghiêm mỗ nghe danh lão tiên sinh từ lâu, mà chưa có dịp tương kiến. Không ngờ đêm nay lại gặp cao đồ của người. Tại hạ với Đào-lạc hầu tuy chưa có duyên gặp gỡ mà lòng đầy kính phục. Chúng ta vốn không thù không oán, tại sao cô nương lại đón đường, bắn tại hạ mấy mũi tên suýt bỏ mạng?

Thiều Hoa không phải là người cơ trí như Đào Kỳ, nên đáp:

– Đào trang lập lên đã bảy đời, truyền 184 năm, lúc nào cũng an phận làm ăn, thuế sưu nộp đủ, không hiểu có tội gì, mà Lĩnh-nam công lại họp những 15.000 quân, viện thêm một sư kỵ ở Giao-chỉ vào để đánh phá? Tướng quân tự xưng là người anh hùng nghĩa hiệp xin giải thích cho.

Nghiêm Sơn nghe Hoàng Thiều Hoa nói, chàng chau mày, quay lại nhìn Nhâm Diên. Ánh mắt của chàng toát ra làn hàn quang cực mạnh, đầy vẻ nghiêm khắc.

Nguyên Nhâm Diên xuất thân là người đọc sách, được cử sang làm Thái-thú Cửu-chân từ thời Tây Hán. Khi Vương Mãng cướp ngôi nhà Hán, thì y theo Vương Mãng. Kịp đến thời Quang Vũ trùng hưng, cử Nghiêm Sơn cùng Hợp-phố lục hiệp kinh lý vùng Lĩnh Nam, thì y lại theo về nhà Hán. Thời gian làm Thái-thú, y đã tổ chức Cửu– chân trở thành một giang sơn riêng. Tuy mới thần phục Quang Vũ, nhưng y vẫn có ý muốn tự lập như Triệu Đà ngày trước. Y dùng văn hoá Trung-nguyên làm cho năm Lạc-hầu Cửu-chân theo y, hai Lạc-hầu khác bỏ mộng phản Hán phục Việt, đi vào đường văn hoá. Chỉ còn lại Đào-hầu, Đinh-hầu là vẫn giữ nếp xưa, nuôi ý chí phục quốc.

Bề ngoài y thần phục Nghiêm Sơn, vì chàng được phong tới tước Công, chức Bình-nam đại tướng quân, nhưng y vẫn muốn gây cho dân chúng chống đối chàng, hầu y có thể lật đổ chàng bất cứ lúc nào. Nhân Đào, Đinh trang chống y, y sai một số người Việt làm việc cho Tế-tác, phải làm phúc trình rằng Đào, Đinh trang là nơi tụ tập của bọn đầu trộm, đuôi cướp, dân chúng bị hành hạ cực khổ. Y xin Lĩnh-nam công đem quân diệt hai trang Đào, Đinh, nhờ đó y nhổ được hai cái đinh trước mắt. Mặt khác y sẽ nói với võ lâm Lĩnh Nam rằng Nghiêm Sơn là người độc ác, đánh phá hai trang Đào, Đinh. Như vậy là một mũi tên, y bắn được hai con chim.

Nghiêm Sơn ở xa mới đến, không nắm vững tình hình. Nghe Đào, Đinh trang là nơi tụ tập của trộm cướp, chàng điều động thiết kỵ từ Giao-chỉ, Nhật-nam vào để tiêu diệt. Chàng tới đây đã hai ngày, tiếp xúc với dân chúng không là bao, nhưng chàng cũng được nghe loáng thoáng rằng Đào, Đinh nổi danh là Cửu-chân song kiệt. Vì vậy chàng bắt đầu nghi ngờ. Bây giờ đối trận với Hoàng Thiều Hoa, chàng thấy ở nàng toả ra vẻ ôn nhu văn nhã. Với tuổi 17-18, mà võ công không kém gì chàng, tiễn thủ kinh người. Nếu nàng định giết chàng, thì chàng đã chết rồi. Võ đạo như thế, thì e rằng đến phái Quế-lâm nhà chàng chưa chắc đã đạt tới được, thì làm sao sư phụ nàng là Đào hầu có thể là trộm cướp như Nhâm Diên nói? Vì vậy chàng đưa con mắt nghiêm khắc nhìn Nhâm, y rùng mình. Nhâm Diên đã từ sau tiến lên. Y chắp tay hành lễ với Thiều Hoa:

– Làm gì có chuyện đó? Không biết đứa nào bịa chuyện nói láo như thế phải đem mà giết đi? Bản chức lúc nào cũng kính trọng Đào hầu, thì làm sao có thể mang quân đánh người?

Thiều Hoa thấy Nhâm Diên vẫn còn dùng bản mặt giả đạo đức, nàng bực mình quát lên:

– Nhâm Diên, ngươi còn chối ư? Sư phụ, sư thúc ta từ lâu không phục hành động giả nhân, giả nghĩa, nguỵ quân tử của mi. Vì vậy mi muốn diệt trừ Đào, Đinh trang. Với bản bộ quân mã, mi thừa sức diệt hai trang, tại sao mi còn cầu viện thiết kỵ từ Giao-chỉ đến? Sư phụ ta đã biết rõ lòng dạ mi: Mi mang quân bất nhân đi đánh người nhân, sợ bị mang thiên hạ nguyền rủa, mi muốn đổ tiếng ác cho người khác. Hồi chiều mi họp với Lĩnh-nam công, định rằng ngày mai mời sư phụ, sư thúc ta tới phủ Thái-thú, cầm chân lại, giết đi, rồi mang quân đánh hai trang. Sư phụ ta đã biết trước, nên tiên hạ thủ vi cường. Người đã cùng các sư huynh, sư đệ, đột nhập phủ Thái-thú để giết mẹ, vợ, con mi, đến con chó, con mèo cũng không tha.

Nhâm Diên vẫn chối:

– Ai đã báo tin thất thiệt cho Đào-hầu, xin cô nương cho bản chức được biết, để trị tội.

Thiều Hoa biết Nhâm Diên là loại người xảo quyệt. Nhưng nàng không phải là người cơ trí, chưa biết trả lời sao để lột mặt nạ y. Thình lình ba mũi tên xé gió bay đến, hai hướng ngực, đầâu Nghiêm Sơn. Một hướng cổ Thái-thú Nhâm Diên. Kình lực khá mạnh. Nghiêm Sơn rút đao gạt được cả hai. Còn Nhâm Diên, y là quan văn, nên không biết tránh. Nghiêm Sơn nhún mình vọt qua ngựa Nhâm Diên, đẩy y lăn xuống đất, còn tay chàng bắt mũi tên. Nhâm Diên thoát chết, y phát run:

– Đứa nào hỗn láo, giết… giết.

Y ra hiệu cho thiết kỵ tiến lên vây Thiều Hoa vào giữa.

Thiều Hoa cười:

– Nghiêm tướng quân, anh hùng vô địch Quế-lâm, mà dùng đại quân để đối phó với một cô gái Việt sao đây?

Nghiêm Sơn biết phía sau Thiều Hoa còn nhiều người mai phục, nên mới có tên bắn ra. Chàng không biết là bao nhiêu người. Bản tính quật cường, chàng vẫy quân lui lại, một mình tiến lên.

Nhâm Diên nói nhỏ với chàng:

– Xin tướng quân đừng chần chờ, giải quyết mau vì phủ Thái-thú đang lâm nguy.

Nghiêm Sơn là Lĩnh-nam công, uy quyền như một ông vua con, chàng không ưa bọn Thái-thú Nhâm Diên, Tích Quang. Bây giờ giữa trận tiền, nghe y thôi thúc, chàng cau mày bực mình, nhưng địa vị chàng là người lớn, nên không muốn quát mắng y ở chỗ đông người.

Nghiêm Sơn thản nhiên hỏi Thiều Hoa:

– Xin cô nương tránh đường cho tiểu tướng đi. Sau đây mấy ngày, tiểu tướng sẽ đến Đào trang bái kiến Đào lão tiên sinh và cô nương.

Bỗng có tiếng quát:

– Khoan!

Đào Kỳ từ bụi cây vọt người ra, nó nhảy nhót mấy cái đã tới trước ngựa Nghiêm Sơn:

– Nghiêm tướng quân, tam sư tỷ của tôi đây vốn kính phục những anh hùng nghĩa hiệp. Nhưng tiếc rằng chưa gặp người nào vượt qua được bảo kiếm của người. Vậy hôm nay tướng quân cũng nên cho dân Cửu-chân được biết qua về võ Trung-nguyên.

Câu nói này, Đào Kỳ vừa có ý khích Nghiêm Sơn, vừa ngụ ý: Sư tỷ tôi là tuyệt thế giai nhân, võ công cao, người chỉ khuất phục đấng anh hùng, võ công cái thế. Nếu tướng quân muốn lọt vào mắt xanh, thì phải thắng được sư tỷ của tôi đã.

Nghiêm Sơn hỏi:

– Chú em, phải chú em là Đào Kỳ không? Ta mới tới đây đã nghe danh chú. Một chiêu đánh ngã lữ trưởng Mã Dũng, hai chiêu đánh ngã lữ phó Triệu Thanh, thực tài không đợi tuổi.

Đào Kỳ chắp tay đáp lễ:

– Tiểu đệ không dám.

Nhâm Diên thấy ba mũi tên lửa màu tím bắn lên từ phủ Thái-thú. Đó là tín hiệu cầu cứu. Một lát lại thấy hai mũi tên bắn lên từ cảng thuỷ quân, có lẽ cảng cũng nguy rồi. Lòng y như lửa đốt, nhưng Nghiêm Sơn cứ như ngây dại trước sắc đẹp Thiều Hoa. Nếu Nghiêm Sơn không là thượng cấp của y thì y đã nổi quạu rồi. Y nghĩ đến mẹ già, vợ, con, không biết những gì sẽ xảy ra nếu phủ Thái-thú bị Đào trang đánh chiếm. Y nói với Nghiêm Sơn:

– Đại tướng quân! Phủ Thái-thú và cảng thuỷ quân nguy cấp. Xin đại tướng quân ra tay gấp cho.

Đào Kỳ biết rõ ý Nhâm Diên, xen vào chia rẽ:

– Nghiêm tướng quân! Tam sư tỷ tôi chưa bao giờ gặp được người anh tuấn, võ công cái thế như tướng quân, tôi tưởng hai vị nên nhân đêm thu đẹp như thế này, trao đổi câu thơ, luận kiếm, hơn là chém giết nhau. Tướng quân đường đường tước phong tới Lĩnh-nam công, sao lại để cho một tên Thái-thú dưới quyền, văn dốt, vũ rát thôi thúc?

Câu nói này đánh trúng tâm sự Nghiêm Sơn. Chàng khoan thai bước xuống ngựa hướng về Hoàng Thiều Hoa nghiêng mình hành lễ:

– Xin được cô nương dạy bảo.

Thiều Hoa rút kiếm tung lên không, rồi thu tay lại hành lễ. Đó là luật lệ của phái Cửu-chân. Nghiêm Sơn cũng vội đáp lễ. Thiều Hoa vọt người lên cao, ánh kiếm bạc tà tà đâm vào cổ Nghiêm Sơn. Nghiêm Sơn đưa tay bắt kiếm. Hoàng Thiều Hoa kinh hãi nghĩ:

– Thế kiếm của ta như vậy mà y dám dơ tay bắt, thì quả là gan cùng mình.

Chiêu kiếm đâm thẳng bỗng thu trở về rồi vòng lên đâm vào vai trái. Nghiêm Sơn nhảy lui lại phía sau hai bước. Thiều Hoa đã đáp xuống đất.

Nghiêm Sơn thấy Thiều Hoa vọt lên cao đánh mình hai chiêu, thân pháp đẹp không tưởng tượng được. Chàng đứng ngây người ra nhìn.

Nhâm Diên nhìn về phủ Thái-thú, thấy lửa bốc cháy ngụt trời, thì lòng nóng như lửa đốt.

Nhâm Diên vẫy tay xua quân xông vào.

Đào Kỳ vọt về phía Nhâm Diên, khi còn lơ lửng trên không, thuận tay nó rút kiếm, đánh liền ba chiêu hiểm ác.

Nghiêm Sơn đang biểu diễn kiếm với Hoàng Thiều Hoa, thấy Thái-thú Nhâm Diên lâm nguy, chàng vội lạng người đi đỡ kiếm của Đào Kỳ.

Choảng một tiếng, kiếm của Đào Kỳ bay mất, tay rách hổ khâu, máu chảy đầm đìa.

Đào Kỳ ôm tay nhăn mặt:

– Oái! Nghiêm đại ca, ngươi ỷ lớn bắt nạt nhỏ. Như vậy không phải là anh hùng.

Bản lĩnh kiếm thuật của Đào Kỳ đã luyện tới mức khá, nhưng sở dĩ y thất bại vì nguyên tắc võ thuật của Lĩnh Nam là dùng mau thắng chậm, dùng động chế tĩnh. Đây Đào Kỳ còn nhỏ tuổi, công lực chưa đủ, lại dùng sức mạnh đánh ra, gặp phải Nghiêm Sơn là người công lực thâm hậu, vì vậy nó bị bay mất kiếm.

Nghiêm Sơn cứu được Nhâm Diên, đánh rơi kiếm của Đào Kỳ nhưng y không vui. Vì Đào Kỳ vừa mồm năm miệng mười như cố ý nói rằng: Ngoài Sơn ra không ai xứng đáng làm anh rể nó. Thế mà chàng đánh rơi kiếm của nó, lại làm nó bị thương.

Nghiêm Sơn hơi hối hận:

– Tiểu sư đệ! Có sao không?

Đào Kỳ làm bộ ôm tay nhăn nhó:

– Mới rách tay, chảy máu, cả cánh tay tê liệt thôi, chứ chưa chết.

Nó nhìn về phía phủ Thái-thú, cảng thủy quân thấy lửa cháy rực trời, nó biết rằng bố với các sư huynh đã thành công. Nó quay lại Thiều Hoa gọi:

– Sư tỷ, chúng ta đi thôi, lúc khác sẽ có dịp luyện kiếm với Nghiêm tướng quân. Hôm nay nể Nghiêm tướng quân, chúng tôi mở đường cho Nhâm Diên đi.

Lực lượng Đào Kỳ chỉ có non 100 người, mà quân của Nhâm Diên tới hơn 1.000, rõ ràng nó đang lâm nguy, nhưng nó làm như nể Nghiêm Sơn, mở đường cho y đi. Kể ra Nghiêm Sơn chỉ cần phất tay, trong chốc lát là chị em Đào Kỳ lâm nguy. Một mặt chàng muốn về cứu phủ Thái– thú, một mặt chàng không muốn gây thù hận với Thiều Hoa. Chàng hướng vào Thiều Hoa hành lễ:

– Hoàng cô nương, hẹn ngày tái ngộ.

Đào Kỳ gọi lớn:

– Khoan!

Y nhảy lại bên Thiều Hoa, phát một chiêu trên mái tóc sư tỷ, rút lấy cành hoa đào bằng vàng. Nó nói với Nghiêm Sơn:

– Nghiêm đại ca, em tặng anh món này, bắt lấy.

Nó phóng cành hoa đào đến trước mặt Nghiêm Sơn. Nghiêm Sơn bắt lấy mà mặt nóng bừng lên, nhưng chàng không quên liếc Thiều Hoa một lần rồi mới đi.

Đội quân Hán đi rồi, Thiều Hoa dơ tay tát Đào Kỳ một cái. Đào Kỳ cười ha hả tránh khỏi:

– Oàé! Trời ơi, đất ơi! Sư tỷ đánh ông mai à?

Thiều Hoa dậm chân nói:

– Sư đệ, ta mách với sư phụ đánh cho ngươi 100 roi về tội này.

Đào Kỳ nghiêm nét mặt lại:

– Sư tỷ, chị không hiểu được ý em ư?

– Hiểu gì?

– Thôi được rồi, đợi gặp bố, mẹ, đại sư ca em sẽ nói. Bây giờ chúng ta đến cảng Bắc để lên đường.

Đoàn người tiến ra phía bờ bể, men theo lên phía Bắc, nhưng tới cảng Bắc thì thấy xác quân Hán nằm la liệt, gươm đao, vũ khí rãi rác trên mặt đất, doanh trại cháy thành than đỏ rực. Thiều Hoa nhặt một thanh đao gẫy lên coi:

– Này tiểu sư đệ, đao này của Đinh gia.

– Như vậy bố, mẹ đã cứu được cậu rồi, chúng ta biết chắc bố, mẹ, cậu, đoàn thuyền đại sư ca, đoàn của anh cả, anh hai đều lên đường ra Bắc. Vậy chỉ còn đoàn của chúng ta mắc kẹt. Còn nhị sư ca hiện ra sao? Việc trước mắt là quan quân truy nã chúng ta rất gắt, chúng ta cần theo bờ biển đi về phía Bắc, để tìm thuyền lên đường.

Có tiếng rên từ trong bụi rậm vọng ra, Hoàng Thiều Hoa chạy lại xem. Nàng la lớn lên:

– Nhị sư ca! Nhị sư ca!

Đào Kỳ cùng mọi người chạy lại, thì thấy nhị sư ca Trịnh Quang mình đầy thương tích đang nằm đó rên.

Thiều Hoa xé vạt áo băng bó cho sư huynh. Trịnh Quang chỉ còn thoi thóp thở, không nói được gì, chân tay cũng không cử động được.

Đào Kỳ tự nghĩ:

– Chắc nhị sư huynh đón gia đình đi cùng với bố, mẹ trong cuộc chiến đấu bị thương, lạc tại rừng này.

Một nữ đệ tử ngoại đồ tên Nguyễn Tường Loan, lắc đầu, chau mày, tỏ ý nghi ngờ.

Đào Kỳ hỏi Tường Loan:

– Không biết sư tỷ có cao kiến gì?

Tường Loan kéo Kỳ ra một chỗ nói:

– Có nhiều điều hơi khác lạ. Võ công nhị sư huynh rất cao, nếu bị thương thì phải do vũ khí hoặc quyền, chưởng của cao thủ mới làm sư huynh mê man đến nằm ngất đi. Đây sư huynh không có những vết thương trí mạng bằng vũ khí, mà chỉ có những vết thương bằng quyền cước ngoài da, mà đến nỗi nói không ra lời, đó là điều lạ lùng. Nhị sư huynh về đón gia đình cùng đi với tên mã phu Nguyễn Ngọc Danh, vậy gia đình đâu? Danh đâu?

Đào Kỳ bảo Tường Loan:

– Đợi gặp sư phụ, sư mẫu rồi tính. Hoặc đợi vài ngày nhị sư huynh tỉnh dậy sẽ nói cho chúng ta biết. Bây giờ đi kiếm thuyền đã.

Một gia nhân nói:

– Vấn đề tìm thuyền cho 100 người cũng không khó, khó là gạo, nước, lương thực từ đây ra Bắc. Bây giờ đang mùa mưa Ngâu, sóng biển rất lớn, nhất là cửa Thần-phù dễ gì vượt qua nổi?

Đối với vấn đề địa lý thì Đào Kỳ mù tịt, nó không hiểu cửa Thần-phù là gì. Nó hỏi người gia nhân:

– Cửa Thần-phù là gì?

Người đó nói:

– Quê đệ ở cửa Thần-phù nên biết rõ. Ở đó có mấy con sông đổ qua, quanh năm gió thổi, nước xoáy thành tròn. Một con thuyền đinh to lớn, đi qua, xoáy cuốn một cái, thuyền quay tròn, bị lôi chìm xuống đáy. Bởi vậy có câu ca:

Lênh đênh qua cửa Thần-phù,

Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm.

Câu này có nghĩa rằng qua cửa Thần-phù chỉ người nào phúc đức mới sống được mà thôi.

Nguyên Đào gia trang thu nhận đệ tử có hai loại: Bắt đầu tất cả đều là ngoại đồ, học võ, học văn giống nhau. Nhưng những người có năng khiếu, ngộ tính cao thì được thu nhận làm nội đồ. Ngoại đồ thì xếp hạng theo tuổi mà gọi nhau. Còn nội đồ thì xếp hạng ai nhập môn trước là sư huynh. Đào hầu có ba con trai, không xếp theo thứ tự đệ tử, mà xếp tuổi. Bởi vậy Đào Kỳ luôn luôn là tiểu sư đệ. Còn gia nhân trong nhà, cũng đều được đối xử và xưng hô như đệ tử.

Đoàn người đi đến sáng thì tới một cửa sông nhỏ. Thuyền đánh cá đêm đã trở về đầy bến. Hoàng Thiều Hoa bàn:

– Bây giờ chúng ta lên bến kia mua thuyền, gạo, nước rồi lên đường.

Đào Kỳ ngửa tay:

– Sư tỷ cho tiền.

Luật lệ Đào gia trang không cho những đệ tử, con cái dưới 16 tuổi giữ tiền, nên trong người Đào Kỳ một đồng cũng không có. Bấy giờ tiền Cửu-chân sử dụng là tiền Hán, đúc bằng đồng, trên mỗi đồng tiền có niên hiệu của năm đúc. Những loại tiền thông dụng là Kiến-nguyên thông bảo, Chính-hoà thông bảo, Hồng-gia thông bảo, Nguyên-thủy thông bảo. Cứ một trăm đồng ăn một lượng bạc, và mười lượng bạc ăn một lượng vàng.

Ghi chú của thuật giả

Kiến-nguyên thông bảo, tiền đúc vào niên hiệu Kiến-nguyên thời Hán Vũ đế (140 – 135 trước Tây lịch).

Chính-hoà thông bảo, tiền đúc vào niên hiệu Chính– hoà đời Hán Vũ đế (92 – 88 trước Tây lịch).

Hồng-gia thông bảo, tiền đúc vào niên hiệu vua Thành đế nhà Hán (20 – 16 trước Tây lịch).

Nguyên-thuỷ thông bảo, tiền được đúc vào niên hiệu vua Bình đế nhà Hán (1 – 6 sau Tây lịch).

Thiều Hoa điều khiển cuộc di chuyển của gia đình, tiền bạc nàng đều giao cho người khác giữ. Trong người chỉ có một nén vàng 10 lượng và mấy trăm đồng tiền. Nàng móc ra đưa cho Kỳ:

– Em đi mua thuyền đi.

Dầu sao Đào Kỳ chỉ là đứa nhỏ, không thông thế tục, nó dụt tay lại:

– Sư tỷ đi mua đi, em đi theo. Chứ em có biết mua đâu.

Trong đám đệ tử đi theo Hoàng Thiều Hoa hầu hết là gái, có nhiều người thông thạo chợ búa. Một người bảo Đào Kỳ:

– Tiểu sư đệ, chị đi với em.

Người đó là Tường Loan. Loan võ không giỏi, nhưng tuổi đã trên 20, nguyên xuất thân là con nhà buôn, nên thạo thế tục. Đào Kỳ bảo Thiều Hoa:

– Sư tỷ, chị dẫn anh em vào khu vườn hoang kia ẩn náu. Đợi chúng em mua xong sẽ ra.

Loan dẫn Kỳ đến xóm chài. Dân xóm chài thấy hai người mặc quần áo sạch sẽ, lưng đeo bảo kiếm, thì biết là người hào kiệt. Đào Kỳ thấy ông lão khoảng 70 đang ngồi nhìn trời, mắt như mơ màng một chuyện gì.

Y tiến tới chắp tay hành lễ:

– Cháu kính chào bác.

Ông lão nhìn Loan, Kỳ, đầu đầy nghi vấn hỏi:

– Hai cháu chắc từ xa đến?

Đào Kỳ đáp thực:

– Chúng cháu từ phương Nam tới đây.

Ông lão gật đầu, chỉ vào trong nhà:

– Hai cháu đói lắm rồi, vào nhà kiếm tí xôi ăn đi.

Đào Kỳ thấy ông lão hiện ra vẻ thiện cảm, không do dự nó đi theo sau.

Ông lão chỉ xuống bếp:

– Cháu nhìn xem có gì lạ không?

Đào Kỳ liếc mắt nhìn, thấy trong bếp có khoảng bảy, tám người đàn bà đang nấu bảy, tám nồi cơm lớn. Một số người đang chặt những con cá khô thành miếng nhỏ.

Tường Loan hỏi ông cụ:

– Thưa cụ, chắc nhà sắp có việc làm đồng, hoặc làm rẫy lớn, nên chuẩn bị nấu cơm, nướng cá khô?

Ông cụ lắc đầu. Thình lình cây gậy của ông đánh vụt vào đầu Tường Loan. Nàng nhảy lùi lại tránh, nhưng cây gậy của ông lượn theo đánh vào ống chân bên trái. Tường Loan lộn đi một vòng tránh khỏi. Nhưng nàng vừa nhảy xuống đất thì cây gậy lại dí vào cổ nàng. Nàng định tránh, nhưng đã đến chân tường. Đành đứng im la lớn:

– Tiểu sư đệ, phát chiêu đi.

Nhưng Đào Kỳ ngồi im trên phản bốc xôi ăn, miệng cười toe toét. Tường Loan giận quá la lớn:

– Tiểu sư đệ, cứu ta với!

Đào Kỳ bốc xôi, bóc chuối ăn:

– Cụ cho em ăn xôi, chuối, và giảo nghiệm võ công sư tỷ, tại sao em phải cứu sư tỷ?

Ông cụ cười, thu gậy lại:

– Cô là ngoại đồ của Đào gia phải không? Còn cậu bé kia chắc là con út của Đào tiên sinh.

Tường Loan chắp tay vái:

– Cháu có mắt như mù, không biết cụ là bậc tiền bối.

Ông cụ cười vẻ tha thứ:

– Cô không tránh được ba chiêu trượng pháp của ta, thì ta biết cô là ngoại đồ. Còn cậu bé này, thấy ta ra chiêu mà biết ngay là ta đùa cợt, nhận ra võ công bản môn. Thế thì cháu phải là con cháu Đào gia mới đúng.

Đào Kỳ chắp tay hành lễ:

– Chúng cháu khép nép kính cẩn nghe cụ dạy bảo.

Ông lão vuốt râu cười:

– Ta là Phạm Bách, ngoại đồ đời trước của Đào trang, so vai vế, ta là sư huynh của sư phụ cháu.

Tường Loan, Đào Kỳ lạy thụp xuống đất hành lễ:

– Chúng cháu ra mắt Phạm sư bá. Kính chúc sư bá vạn thọ.

Ông cụ thở dài:

– Đêm qua ta thấy lửa cháy ở phương Nam, có tiếng trống trận, tiếng ngựa hí, ta biết rằng Thái-thú đã ra tay. Mà Thái-thú ra tay, thì không thể diệt Đào gia, Đinh gia thì làm gì đây? Ta biết dù Đào, Đinh có tài vũ dũng đến đâu, nhân số cũng chưa tới nghìn người, làm sao địch lại một vạn rưỡi quân của huyện Cửu-chân, lại thêm kỵ binh Giao-chỉ trên năm nghìn người do Thái-thú Giao-chỉ tăng viện tháng trước cho Nhâm Diên? Bởi vậy ta liệu thế nào người Đào, Đinh trang cũng chạy qua đây, nên nấu cơm, nướng cá khô sẵn để tiếp tế. Cuộc chiến ra sao, các cháu nói cho ta nghe.

Tường Loan tường thuật hết tự sự.

Phạm Bách thở dài:

– Từ lâu rồi, ta đã biết Thái-thú muốn tiêu diệt hết những hào kiệt Cửu-chân ta. Cái thế ta với Hán không thể cùng đứng. Ta không đánh họ, họ cũng diệt ta. Chi bằng đánh để chết cho thoả chí. Thế là quận Cửu-chân có bao nhiêu thế lực đều bị giết hết. Hán đế lo nhất là vùng Cửu-chân, Giao-chỉ, còn các vùng khác, y không quan tâm. Nay Cửu-chân, Đào, Đinh trang bị đánh thì đất Lĩnh Nam như rắn mất đầu, không ai dám nghĩ đến phản Hán phục Việt nữa.

Ông thở dài rồi nói tiếp:

– Giờ, ta đề nghị, các cháu chia ra toán năm người, toán bảy người, ngày mai làm dân tải muối đi bán đến vùng Lệ-hải ẩn thân. Còn ta với mấy cháu đi các nơi dọ xét xem sao đã. Các cháu nghĩ sao? Bởi hiện giờ họ Cao, giòng dõi Cao Nỗ xưa đang hùng cứ vùng núi Côi, chúng ta có thể tới đó nương nhờ.

Đào Kỳ thưa:

– Phạm sư bá đã dạy vậy, chúng cháu xin tuân lệnh.

Tường Loan dẫn mấy người nhà họ Phạm mang cơm vào rừng hoang cho anh em ăn, nói rõ chủ ý của Phạm Bách. Mọi người đều đồng ý.

Đêm đó mọi người ngủ trong hoang sơn. Đào Kỳ tuy võ công cao, kiến thức rộng, nhưng bản chất vẫn là đứa trẻ 13. Nó là con út, được bố mẹ cưng chiều, sống trong nhung lụa đã quen, bây giờ xảy ra biến cố, nhà tan, cửa nát. Bố mẹ, các anh không biết phiêu bạt nơi nào, lại phải nằm ngủ trong rừng. Nó ôm mặt thút thít khóc. Hoàng Thiều Hoa cũng tủi thân không ít, nhưng hiện trên trăm người, vừa sư huynh, vừa sư đệ, vừa tráng đinh, thì Trịnh Quang là sư huynh của nàng, có địa vị cao nhất, mà y bị thương mê man, vì vậy nàng phải điều động tất cả. Thấy Đào Kỳ khóc, nàng lại bên cạnh ôm nó vào lòng, lấy vạt áo lau nước mắt cho nó. Nàng dỗ một lúc nó mới chịu ngủ.

Sáng hôm sau mọi người thức giấc thì không thấy Tường Loan, vội đổ xô đi tìm, thì thấy xác nàng nằm dưới chân đèo, mình đầy thương tích, giống như trượt chân ngã. Thiều Hoa lại nắm tay xem mạch, thì Tường Loan chết rồi. Mọi người vào sinh ra tử, cả đoàn chỉ có mấy người bị thương, mà nay họ đã thoát khỏi hiểm nguy, tưởng được yên thân, thì Tường Loan bị trượt chân ngã mà chết. Các nữ đệ tử bưng mặt khóc thảm thiết.

Thiều Hoa ôm xác Tường Loan lại một hang đá, đặt vào trong đó, rồi sư huynh, đệ dùng đá lấp lại. Nàng lấy kiếm khắc mấy chữ ở cửa hang:

“Đào gia Nguyễn Tường Loan, tuẫn quốc tại chỗ này”.

Chương 3: Giang Sơn Vô Lệ Khấp Anh Hùng

Giang sơn vô lệ khấp anh hùng

(Phan Chu Trinh, Chí thành thông thánh thi)

Nghĩa là:

Giang-sơn không còn nước mắt để khóc anh hùng

Lạc tướng Phạm Bách nguyên xuất thân là ngoại đồ của Đào gia trang đời thứ sáu. Theo vai vế thì Đào Thế Kiệt phải gọi ông là sư huynh, Đào Kỳ cũng như Thiều Hoa phải gọi ông là sư bá. Hồi niên thiếu, ông được thân phụ của Đào Thế Kiệt nhận làm ngoại đồ, học võ trong ba năm. Sau đó ông bỏ lên vùng Linh-trường lập nghiệp. Cũng giống như sư phụ, ông tổ chức phá rừng, làm ruộng, đánh cá. Ông còn tổ chức hệ thống làm nước mắm bán. Nước mắm của ông có tiếng, suốt vùng Giao-chỉ, ai ăn nước mắm Linh-trường của ông cũng phải khen ngon. Mỗi ngày ông có hai toán tải nước mắn ra Bắc bán. Chẳng bao lâu ông trở thành giàu có.

Tuy giàu có, nhưng ông vẫn nhớ lời sư phụ dặn: Đừng quên cái hận vong quốc. Cho nên ông lợi dụng bán nước mắm, liên kết hào kiệt khắp nơi. Ông cùng Đào Thế Kiệt, Đinh Đại thường gặp nhau để trao đổi những tin tức trọng đại. Nay thấy Đào, Đinh nhà tan cửa nát, ông không khỏi đau lòng. Ông vào rừng gặp đệ tử, gia đinh của Đào trang, rồi phân tán họ thành 10 nhóm khác nhau, mỗi ngày ông cho một nhóm lên đường, với những xe chở nước mắm. Ông thấy trong hào kiệt đương thời, thì Cao hầu ở Hoa-lư người nhiều thế mạnh, có thể cho đệ tử Đào trang ra đó ẩn thân rồi tìm cách liên lạc lại với Đào Thế Kiệt và Đinh Đại sau.

Toán cuối cùng lên đường có Thiều Hoa, Đào Kỳ và tám người nữa. Đích thân ông đi cùng các cháu, để dò la tin tức gia đình hai sư đệ hiện phiêu bạt phương nào. Đến ngày lên đường thì Trịnh Quang vẫn còn phải nằm trên võng cho đồng môn khiêng đi.

Đoàn người khởi hành từ tờ mờ sáng, đến khi hoàng hôn, thì xa xa hiện ra hai dãy núi chặn ngang trước mặt.

Phạm Bách chỉ núi cho Hoàng Thiều Hoa và Đào Kỳ coi rồi nói:

– Kìa là núi Tam-điệp, tẻ ra hai hòn núi Thiết-giáp và Thần-đầu. Giữ hai ngọn núi là con sông Chính-đại đổ ra cửa biển Thần-phù.

Ghi chú của thuật giả

Vị trí này ngày nay nằm về phía Nam Phủ-lý 79 km, cảnh rất đẹp. Hai hòn núi Thiết-giáp và Thần-đầu kẹp con sông Đáy vào giữa. Phong cảnh tú nhã, nữ sĩ Hồ Xuân Hương thấy cảnh sông núi tượng hình cái của quý của đàn bà, đã tả rằng:

Hai bên thì núi, giữa thì sông,

Có phải đây là Kẽm-trống không?

Theo sách Phong-thuỷ ký thì chỗ con sông bị kẹp, giữa lòng có xoáy nước. Nếu táng mả tổ tiên vào đây, thì đời đời trong họ sẽ sinh ra những vị nữ lưu xinh đẹp, làm nghiêng ngửa giang sơn. Vua Thiệu Trị ra Bắc kinh lược, thấy địa thế kỳ lạ không dám đi qua sợ bi ô uế thân thể một vị đế vương, bắt dân chúng đào một con sông phía sau núi mà đi.

Hoàng Thiều Hoa mơ màng nhìn giang sơn đẹp như gấm, như hoa, hỏi:

– Cách đây mấy hôm một sư huynh có nói cửa biển Thần-phù ghê sợ lắm, ai qua đó khó biết rằng sống hay chết. Chỉ người nào phúc lớn mới qua khỏi mà thôi. Không biết có đúng không?

Phạm Bách đã qua đây nhiều lần rồi, nên rất am tường địa thế:

– Đúng đấy, cửa Thần-phù là nơi nhiều con sông gặp nhau gồm sông Hồng-hà, sông Mã, sông Vân-sàng, và sông Đáy. Sông thì sâu, nước chảy mạnh, thành ra những xoáy lớn. Thêm gió từ biển thổi vào ngược chiều xoáy. Hoá cho nên thuyền bè bị nước xoáy một chiều, gió thổi một chiều, nên hầu hết đều chìm.

Trời chập choạng tối thì đoàn người đã vượt qua ngọn núi Thiết-giáp, lọt vào thung lũng núi Thiết-giáp và Thần-đầu. Phạm Bách chỉ cho đệ tử Đào trang ngủ trong một ngôi đền lớn.

Ngôi đền không biết được xây từ bao giờ. Lớp ngói đỏ đã dầy những rêu xanh bao phủ. Tường gạch đỏ đã có chỗ lõm vào, tỏ ra đền đã chịu không biết bao nhiêu tuế nguyệt. Trước đền có hai con voi, hai con ngựa bằng đá xanh, được tạc rất khéo. Trên lưng voi, ngựa là tượng hai người lưng đeo cung tên, tay cầm gậy trong tư thế chiến đấu. Sân đền rộng mênh mông trồng nhiều hoa thơm cỏ lạ. Cổng đền được xây bằng đá, trên nóc đắp hai con rồng tranh châu. Hai bên cổng là hai cây đa cao vút tới tận mây xanh. Giữa sân là một cái hồ sen, hoa nở bốc hương thơm ngào ngạt, trước đền có chữ đề Cao Đại vương linh từ.

Phạm Bách ra lệnh cho con trai ông là Phạm Quang Minh:

– Con dẫn anh em Đào trang với người của mình vào nhà sau, kiếm chỗ nghỉ và nấu cơm ăn. Con làm cho bố mâm cơm tinh khiết để cúng Cao đại vương.

Thiều Hoa, Đào Kỳ định vào nhà sau, thì Phạm Bách gọi lại:

– Các cháu theo bác.

Ông dẫn hai người dạo quanh đền, rồi chỉ bãi cát trước sân kéo dài tới bờ biển. Ông thuật:

– Đây là chiến địa cuối cùng thời An-dương vương.Vương chạy đến Hoa-lư thì anh em đại tướng Cao Nỗ, Cao Tứ mang nỏ thần ra bắn lui quân Triệu Đà. Nhưng quân Triệu đông hàng mấy vạn, trong khi anh em Cao tướng quân chỉ có mấy trăm. Vì vậy ông bị bại. Anh em vừa đánh vừa rút tới đây thì sức cùng lực kệt. Ông thúc An-dương vương chạy vào Nam, còn anh em tử chiến chận giặc. Tại chỗ này, Triệu Đà thấy ông có tài muốn mua chuộc, cho người đến trại chiêu hàng. Đà hứa nếu ông chịu quy thuận thì cho cai trị đất Giao-chỉ. Này cháu Thiều Hoa! Đào Kỳ! Nếu các cháu là Cao tướng quân thì các cháu sẽ xử trí như thế nào?

Thiều Hoa đáp:

– Thưa bác, cháu giết chết sứ giả, tử chiến một trận. Tuy không thắng cũng làm cho giặc kinh hồn táng đởm, rồi chết cho thoả chí người Lĩnh Nam. Bọn Triệu Đà võ công không cao, tín nghĩa không có, chỉ nhờ xảo quyệt mà đắc thế, người cầm gươm không thể cùng cộng tác với hắn.

Đào Kỳ cười khúc khích.

Hoàng Thiều Hoa nghiêm nét mặt mắng:

– Tiểu sư đệ! Chị chưa tính tội tiểu sư đệ về vụ Nghiêm Sơn. Nay còn đùa nữa sao? Trước khi xảy ra trận đánh cảng Bắc, sư mẫu dặn em rằng: Mọi chuyện nhất nhất phải nghe chị. Nay sao em dám cười chị. Chị nói vậy không đúng hay sao?

Đào Kỳ càng cười lớn:

– Bố em thường cho rằng chị là người ôn nhu, mà chí khí như bậc nam nhi, quả đúng. Nhưng giữa chí khí nam nhi và khí phách của bậc anh hùng thì khác nhau xa lắm. Em cười là cười chị có chí khí nam nhi mà không đủ khí phách của bậc anh hùng.

Hoàng Thiều Hoa xịu mặt xuống nàng nói dỗi:

– Tiểu sư đệ! Thì ra tiểu sư đệ có khí phách anh hùng đấy. Ta, Thiều Hoa, xin kính cẩn rửa tai nghe khí phách tiểu anh hùng của sư đệ.

Đào Kỳ vỗ tay vào lưng sư tỷ, nó nheo mắt, thè lưỡi nhát Thiều Hoa:

– Ngày xưa nước Việt có nàng Tây Thi, đẹp tuyệt trần. Nhưng mỗi lần nàng giận hờn, cau mặt càng đẹp hơn. Vừa rồi chị cau mặt coi càng đẹp. Em là tiểu sư đệ còn muốn nhìn huống hồ người ngoài… Mọi khi em đùa đến đâu sư tỷ cũng hỷ xả bỏ qua. Không hiểu sao mấy ngày hôm nay bề ngoài thì sư tỷ làm như bình thản, mà trong lòng nóng như lửa đốt. Trong khi tình ý lại dạt dào như sóng bể Thần-phù.

Đào Kỳ đã đánh trúng tâm trạng Thiều Hoa. Từ đêm giao chiến với Nghiêm Sơn đến giờ, nàng thấy người như có gì khác lạ. Mỗi lần nghĩ đến trận chiến đêm đó, mặt nàng lại nóng bừng lên. Nàng cảm thấy lo sợ: Hay là mình đã cảm Nghiêm Sơn? Nghĩ đến cảnh vong quốc hiện tại, nghĩ đến những lời khắt khe của sư phụ khi nói đến Mỵ Châu, nàng càng cảm thấy mình có tội lỗi với tổ tiên, với dân tộc. Nay Đào Kỳ nói câu đó, nàng lại rộn lên:

– Chị chỉ muốn em trả lời câu hỏi của sư bá. Chứ chị không muốn em đùa dỡn. Chúng ta đang đứng trước đền thờ vị anh hùng dân tộc, hơn nữa là tổ sư của võ học nhà mình.

Đào Kỳ thấy sư tỷ giận, nó không dám đùa nữa:

– Chị chém chết sứ giả, rồi quyết chiến một trận, thì chị làm cho giặc sợ, và tỏ được khí phách của mình. Còn chị mỉa mai em là tiểu anh hùng thực lòng chị bồi hồi nên nói cũng sai. Từ ngàn xưa, dù người lên bảy tuổi đánh giặc Ân như Phù-đổng Thiên-vương cũng là anh hùng. Anh hùng là anh hùng, chứ không hề có tiểu anh hùng.

Thiều Hoa thấy mình đấu khẩu với cậu tiểu sư đệ thì chỉ có nước thua. Muôn ngàn lần nàng không phải là đối thủ của y, nên làm mặt giận, không nói năng gì nữa. Sống bên Đào Kỳ từ bé, Thiều Hoa biết tính cậu tiểu sư đệ ưa phá, ưa đùa, nhưng mỗi lần như vậy nàng tỏ ra giận dỗi, thì y ngưng lại liền. Hôm nay Đào Kỳ dồn Thiều hoa vào chỗ bí, nàng lại dở chiêu thức cũ ra. Quả nhiên Đào Kỳ không dám đùa nữa, nó trả lời Phạm Bách:

– Thưa sư bá, nếu cháu là Cao tướng quân thì cháu nhận lời đầu hàng. Khi đầu hàng rồi, sẽ tìm cách khôi phục giang sơn, hơn là tử chiến vô ích.

Phạm Bách ngâm se sẽ:

Anh hùng như thể khúc lươn,

Khi cuộn thì ngắn, khi vươn thì dài.

Cháu quả thật xứng đáng con cháu họ Đào. Nhưng Đại tướng quân Cao Nỗ lại hành động như Thiều Hoa. Ông giết chết sứ giả, hẹn ngày hôm sau quyết chiến. Sáng hôm sau ông dẫn trên 50 đệ tử dàn trận, đấu với ba vạn quân của Triệu Đà. Hầu cỡi ngựa tiến lên trước trận nói:

– Triệu vương! Hôm nay nước Âu-lạc của tôi đã cùng rồi. Chúng tôi liều một trận tử chiến mà thôi. Không biết bên Triệu có ai đủ can đảm đấu với tôi không? Hay là dùng đông người để ăn hiếp ít người?

Triệu Đà bị khích, y nói:

– Tướng quân muốn đấu gì? Gươm, đao, hay quyền cước?

Cao Nỗ nói:

– Tôi muốn đấu cung tên. Tôi một cung, chín mũi tên. Bên Triệu cử một tướng cũng một cung, chín mũi tên. Nếu tôi bại, thì xin cúi đầu cắp gươm theo hầu Đại-vương. Còn nếu bên Triệu bại, thì xin Đại-vương lui quân 100 dậm, sau mười ngày tái đấu.

Bên Triệu, đại tướng Triệu Thắng là một trong những thần tiễn. Y nghe Triệu Đà hàng ngày khen tài thiện xạ của Cao Nỗ mà bực tức trong lòng. Nhân dịp này, y muốn đấu với Cao Nỗ, liền vọt ngựa ra trước trận:

– Ta muốn cùng Cao tướng quân đấu trận này.

Y cởi gươm, cầm cung với chín mũi tên đứng đối diện.

Quân hai bên lùi lại.

Cao Nỗ thúc ngựa chạy trước. Triệu Thắng phi ngựa đuổi theo sau. Thắng lấy cung nạp tên, nhắm đầu Cao Nỗ bắn. Cao Nỗ chờ tên bay sát tới đầu, ông né sang một bên, tay bắt lấy tên bỏ vào túi. Ông vẫn phi ngựa chạy vòng quanh sân. Triệu Thắng đuổi theo, y bắn mũi tên thứ hai nhắm giữa lưng ông. Lần này ông không bắt tên nữa, chờ tên sắp tới lưng, ông cúi xuống chống hai tay vào lưng ngựa, tên bay giữa đầu và hai tay ông. Đợi tên bay qua, ông co hai tay rồi đẩy mạnh lên, người ông lại cỡi trên lưng ngựa, nhưng cỡi ngược, quay mặt về sau.

Quân sĩ hai bên reo hò ầm ĩ. Triệu Thắng bắn liền ba mũi: Hai mũi hai bên, một mũi vào giữa mặt ông. Ông đưa tay bắt hai mũi hai bên. Mũi thứ ba tới trước mặt, ông há miệng cho mũi tên bay vào tới giữa hai hàm răng rồi cắn chặt lấy. Mũi tên còn dư lực chuôi rung rung không ngớt. Một bên bắn, một bên tránh, bắt, nhưng hai ngựa vẫn cách nhau một khoảng đều. Triệu Thắng đã mất năm mũi tên, y hoảng sợ lắm. Y bắn liền ba mũi tên nữa, một mũi hướng ngựa, hai mũi hướng ngực Cao Nỗ.

Bây giờ Cao Nỗ mới nạp tên bắn ngược trở lại ba mũi tên. Tiếng tên xé gió, cắt đôi ba mũi tên của Triệu Thắng thành sáu đoạn.

Hầu cho ngựa phi chậm lại, nạp tên vào cung hô lớn:

– Triệu Thắng, ta bắn trả ngươi đây. Ngươi hãy coi ta bắn trúng mũ của ngươi.

Mũi tên xé gió bay đến trúng vào mũ của Triệu Thắng đến choảng một tiếng. Y hoảng hồn phi ngựa chạy.

Hầu lại hô:

– Ta bắn đứt giây cương ngựa của ngươi đây.

Mũi tên xé gió bay đến bên ngựa Triệu Thắng, phựt một cái, cương ngựa bị đứt. Ngựa Thắng không cương chạy ngược trở về trận Triệu.

Hầu hô lớn:

– Ta bắn trúng ngựa ngươi đây.

Hầu buông một lần ba mũi. Một hướng Triệu Đà, một hướng Trọng Thuỷ, một hướng Triệu Thắng. Triệu Đà, Trọng Thuỷ tuyệt không ngờ hầu lại có thể bắn một lần ba mũi hướng ba vị trí. Đà hoảng hồn lộn người xuống ngựa tránh, nhưng mũi tên cũng trúng bắp đùi y. Còn Triệu Thắng thì cả người lẫn ngựa chết tại trận tiền. Trọng Thuỷ chỉ bị trúng vai trái thôi.

Quân Triệu tràn sang như nước vỡ bờ. Cao đại tướng quân tử chiến đến mũi tên cuối cùng rồi rút kiếm tự tử.

Phạm Bách kể xong, thì Đào Kỳ, Hoàng Thiều Hoa cảm thấy như còn văng vẳng đâu đây tiếng ngựa hí, quân reo, tiếng tên xé gió kêu vi vút. Hoàng Thiều Hoa nước mắt đầm đìa. Còn Đào Kỳ mím môi nghiến răng:

– Khi gặp thời thì anh chàng câu cá như Hàn Tín, anh chàng bán thịt chó như Phàn Khoái cũng thành công. Còn khi thời đã mất thì dù có tài như Sở Bá vương cũng phải tự tận trên bến Ô-giang. Cao đại tướng quân tài trí một thời, giúp Thục An Dương vương dựng nghiệp lớn, chế ra nỏ thần, giết Đồ Thư, đánh Triệu Đà nhiều trận kinh hồn táng đởm. Nhưng đất Âu-lạc người ít, dân thưa, lại bị cái vạ Mỵ Châu làm cho đến nỗi mất nước, phải tự tận. Tiếc thay cho những bậc anh hùng!

Phạm Bách dẫn hai người vào đền thờ, chỉ cho xem tượng tướng quân Cao Nỗ, uy nghiêm như người sống. Bên cạnh tượng dựng một cây côn bằng đồng sáng chói.

Phạm Bách hỏi Đào Kỳ:

– Bác nghe cháu đã được học Cửu-chân trượng pháp và đã luyện đến chỗ tuyệt kỹ. Vậy cháu có thể biểu diễn để bác coi được không?

Đào Kỳ tuân lệnh, đến trước bàn thờ Cao Nỗ qùy xuống khấn:

– Nếu Cao tổ sư có linh thiêng xin chứng cho đệ tử. Đệ tử mạo muội sử dụng đồng côn của ngài, để biểu diễn cho sư bá xem.

Đồng côn của Cao Nỗ không có hình dáng tròn, mà là một cây gậy hình tam cánh đều đặn, dài khoảng gần một trượng. Đào Kỳ những tưởng đồng côn nặng lắm, nhưng khi cầm lên lại thấy vừa. Nó ngạc nhiên vô cùng, tự hỏi:

– Hay là đồng côn rỗng bên trong?

Nó rút kiếm khẽ gõ vào đồng côn, thì thấy tiếng cách, cách, tỏ ra đồng côn đặc chứ không phải rỗng. Nó tự nghĩ:

– Chắc cây côn này chỉ bọc ngoài một lớp đồng, còn bên trong thì bằng chất gì khác nhẹ hơn đồng.

Nó hướng vào Phạm Bách hành lễ:

– Đệ tử xin mạn phép, nếu có gì sai xin sư bá chỉ điểm cho.

Nói xong, nó múa đủ 18 lộ Cửu-chân côn pháp, rồi ngừng lại:

– Xin sư bá chỉ dạy.

Phạm Bách mơ màng nhớ lại hồi còn trẻ, sư phụ có dạy Thục gia trượng pháp cho ông, nhưng vì ông là ngoại đồ, nên chỉ được học có 10 lộ mà thôi. Nay thấy Đào Kỳ đánh đủ 18 lộ, ông mới biết Thục gia trượng pháp có biến hoá phức tạp vô cùng, mỗi lộ bề ngoài coi cục mịch nhưng bao hàm những sát chiêu ghê gớm. Ông được sư phụ giảng rằng côn pháp này do tả tướng Vũ Bảo Trung tức ông Nồi chế ra. Sau đó ông đã dùng nó để đánh quân Tần. Chính Đồ Thư bị giết về lộ côn pháp này. Sư phụ ông còn nhấn mạnh: Côn pháp xuất phát từ Vạn-tín hầu Lý Thân. Khi Vạn-tín hầu tự tận thì đệ tử của ngài là Vũ Bảo Trung mới dựa theo đó mà sửa đổi, thêm những kinh nghiệm vào. Trượng pháp nổi danh ngang với thần tiễn của Cao Nỗ. Nó có đặc điểm là dù người ngu, người già, đàn bà, trẻ con đều học được cả. Khi sử dụng, tuỳ theo công lực. Công lực yếu, thì uy mãnh thường, công lực mạnh thì uy mãnh tuyệt luân.

Ghi chú của thuật giả

Cao Nỗ, trước theo vua Hùng. Khi An-dương vương vây vua Hùng, Ngài mở cửa thành cho An-dương vương vào ngày mùng sáu tháng giêng. Về sau ngày sáu tháng giêng trở thành ngày hội của Cổ-loa. Dân chúng coi như ngày lập quốc thứ nhì. Có câu tục ngữ:

“Chết thì bỏ con, bỏ cháu,

Sống thì không bỏ mùng sáu tháng giêng”

Cao Nỗ là một trong Tứ-trụ đại thần triều Âu-lạc là:

1. Đại-tư mã, Vạn-tín hầu Lý Thân.

2. Đại-tư không, Trung-tín hầu Vũ Bảo Trung.

3. Đại-tư đồ, Cao-cảnh hầu Cao Nỗ (Lỗ).

4. Tể-tướng, Phương-chính hầu Trần Tự-Minh.

Sau khi Vạn-tín hầu Lý Thân tự tận, Cao Nỗ được thay thế lĩnh chức Đại Tư-mã, tương đương với ngày nay là Tổng Tư-lệnh quân đội. Cũng có sách chép ngài lĩnh chức Tả-tướng quân. Vì có chân tài, lại có công, ngài được An-dương vương phong làm Cao Cảnh-hầu, Em Ngài là Cao Tứ được phong là Cao-dương hầu. Ngài là người phát minh ra nỏ thần, bắn một loạt hàng ngàn mũi tên. Sau dân chúng huyền thoại hoá đi rằng vua Thục được thần Kim-quy cho móng rùa làm nẫy nỏ. Trước đây, suốt một dãy bờ biển từ Thanh-hoá đến Hà-nội nơi nào cũng có đền thờ hai Ngài.

Niên hiệu Trùng-hưng thứ 1 (1285) đời vua Trần Nhân-tông, sắc phong ngài là Nghị-vương. Năm Trùng-hưng thứ 4 (1288) gia phong Cương-chính Nghị-vương. Niên hiệu Hưng-long thứ 21 (1313) đời Trần Anh-tông gia phong Uy-huệ Cương-chính Nghị-vương.

Hiện tôi còn tìm ra bốn đền thờ ngài:

1. Đền thứ nhất, ở số 13B phố Đào Duy Từ, Hà-nội,

2. Đền thứ nhì, ở đình Ngũ-đăng, Hàng-bè, Hà-nội. Tại đình Ngũ-đăng có đắp tượng hai ông và con voi cùng tử tiết, với đôi câu đối:

“Tô chử nộ ba đào, nhất phiến tinh trung truyền Thục sử,

Loa thành huyền nhật nguyệt, cửu trùng hoa cổn tại Đinh triều”

Nghĩa là:

Sóng sông Tô-lịch cuồn cuộn sóng căm hờn, tấc dạ trung thành truyền sử Thục.

Thành Cổ-loa treo cao vầng nhật nguyệt, áo hoa phong tặng tự Đinh triều.

Thời nhà Đinh, vua Đinh Tiên-hoàng là đệ tử phái Hoa-lư, hậu duệ của ngài, khi lập được đại nghiệp, phong ngài là Trung dũng đại vương.

(Chi tiết về Cổ-loa, xem hồi 10 trong sách này),

3. Đền thứ ba, tại đình Ái-mộ, tổng Gia-thụy, nay là xã Gia-thụy, huyện Gia-lâm, Hà-nội. Phổ của đình chép ngàigiữ chức Tả-tướng quân triều Âu-lạc. Ngài là người chế ra nỏ thần, gọi là Linh-quang kim trảo thần nỗ. Sau này, thế kỷ thứ tám, viên quan nhà Đường là Cao Biền, sang cai trị nước ta. Y bịa ra rằng được ngài nhập mộng báo cho biết rằng sẽ đem Thần-nỏ cùng âm binh giúp y đánh giặc Nam-chiếu. Y có làm bài thơ nói về giấc mộng này như sau:

Mỹ hỹ Giao-châu địa,

Du du vạn tải lai.

Cổ hiền năng đắc kiến,

Chung bất phụ linh đài.

Tạm dịch:

Giao-châu đất đẹp thay,

Dằng dặc vạn năm nay.

Người hiền xưa nay thấy,

Thực không phụ lòng này.

Tài-liệu chữ Hán:

ĐVSKTT, Ngoại-kỷ.

Bắc-ninh tỉnh thần tích.

4. Đền thứ tư, là Cao-công từ, đền ở bờ sông Đại-than, huyện Gia-bình, tỉnh Bắc-ninh. Nay là xã Cao-đức, huyện Gia-lương, tỉnh Hà Bắc.

Tài liệu chữ Hán Việt-Nam:

Việt điện U-linh.

Lĩnh Nam chích quái.

ĐVSKTT, Ngoại-kỷ.

Thiên-Nam vân lục.

ĐNNTC.

Bắc thành địa dư chí lục.

Đại Viêt địa chí.

Bắc-ninh tỉnh địa dư.

Bắc-ninh phong cảnh tập.

Bắc-ninh toàn tỉnh địa dư chí.

Bắc-ninh toàn tỉnh địa dư chí.

Ngọc phả cổ lục.

Tài liệu Trung-quốc:

Giao-châu ngoại vực ký

Thủy-kinh chú q.14

Thái-bình hoàn vũ ký, phần Nam Viêt ký, q.170

Tục bác vật ký

Nên chú ý là các sách Trung-quốc đều chép tên ngài là Cao Thông. Còn các sách Việt thì chép là Cao Nỗ hay Cao Lỗ.

Ngôi đền mà Đào Kỳ và Thiều Hoa trú ngụ đã bị Trương Phụ phá năm 1407.

Hốt nhiên một phi tiễn xé gió hướng Đào Kỳ bay tới. Nó đưa côn gạt đánh kịch một tiếng. Côn, tiễn đụng nhau toé lửa, cánh tay nó tê chồn. Nó định nhặt mũi tiễn lên xem thì hai mũi khác lại bay đến, một hướng cổ, một hướng ngực.

Không dám chần chờ, nó xuống trung bình tấn đưa côn gạt mũi tên hướng cổ. Lần này kình lực mạnh quá, cây côn sút tay văng ra xa, cả người nó bị rung động. Nó còn đang bàng hoàng thì mũi tên thứ nhì đã đến trước ngực. Nó nghĩ thầm:

– Thôi thế là hết đời.

Hoàng Thiều Hoa thấy sư đệ bị lâm nguy, nàng rút kiếm gạt. Mũi tụ tiễn chạm vào kiếm đánh choảng một cái. Cây tiễn đổi chiều bay xẹt qua tai Đào Kỳ. Còn Hoàng Thiều Hoa suýt văng mất kiếm, cánh tay nàng tê chồn.

Về võ công thì Phạm Bách không bằng các cháu, nhưng ông kinh nghiệm lịch lãm nhiều. Biết đây là đại cao thủ, ông lên tiếng:

– Cao nhân nào, xin xuất hiện. Tại sao lại nấp nấp, ẩn ẩn như tiểu nhân vậy?

Bình một tiếng, cánh cửa mở rộng, hai người bước vào. Đó là một nam lùn tịt để chòm ria môi trên, tuổi trung niên. Một nữ dáng người yểu điệu thanh thoát. Cả hai đeo trường kiếm trên lưng.

Phạm Bách giật mình:

– Thì ra Phong-châu Vũ gia. Thảo nào tụ tiễn có kình lực mạnh đến thế… Chẳng hay nhị vị tới đây có điều chi dạy bảo?

Nguyên hai người này lạ một cặp vợ chồng. Chồng tên Vũ Hỷ, vợ tên Vũ Phương Anh. Họ là sư huynh, sư muội đồng môn, xuất thân từ phái Tản-viên, là đệ nhất danh môn chính phái. Mấy năm gần đây, tự nhiên họ phản sư môn, qua lại tác quái trên giang hồ. Hành vi của họ thường ác độc, ghê tởm, nên người ta tặng cho họ danh hiệu Phong-châu song quái. Tản-viên là phái võ chủ trương phản Hán phục Việt, nhưng Song-quáiï lại đi làm việc cho phủ Tế-tác của Cửu-chân. Võ lâm Lĩnh Nam nghe đến họ không ai mà không táng đởm kinh hồn.

Phạm Bách là đệ tử danh môn, tuổi đã cao, ông không muốn dùng danh từ Song quái nên gọi trật đi là Phong-châu Vũ gia.

Vũ Hỷ hỏi:

– Phạm lão tiên sinh, dám hỏi lão tiên sinh đi đâu đây?

Phạm Bách chột dạ, nhưng vẫn cười dòn:

– Hai vị khéo đùa. Phạm gia chúng tôi làm nghề chế mắm, cất nước mắm đã hơn 40 năm. Từ Nam tới Bắc, ai mà không từng ăn qua, hoặc không thì cũng đã từng ngửi qua. Hôm nay lão tải một số hàng ra Luy– lâu bán. Chẳng hay nhị vị có dắt hàng cho không?

Phương Anh cười:

– Nếu thực vậy, thì ra lão gia không có ý gì khác ư? Vì mười ngày qua, tôi thấy đệ tử Phạm gia tải nước mắm hơi nhiều hơn hàng ngày. Lại nữa họ đều là những người võ công cao cường. Võ công của họ là võ công Đào gia, chứ không phải của Phạm gia.

Phạm Bách suy nghĩ:

– Có lẽ hai con quỷ này nó đã khám phá ra kế hoạch của mình rồi chăng?

Song ông vẫn nói lảng:

– Phạm mỗ xuất thân là đệ tử Đào gia, thì võ công Đào gia, Phạm gia có gì khác nhau đâu?

Vũ Hỷ cười gằn:

– Tiên sinh bằng ấy tuổi, mà nói năng còn hồ đồ như con nít vậy. Đừng hòng lấy vải thưa mà che mắt thánh. Tiên sinh là tục gia đệ tử Đào gia, võ công tầm thường thôi. Đằng này trong những người đi theo, đều có võ công tuyệt luân cả. Họ là nội đồ của Đào gia. Ta nghe Đào gia làm phản, Thái-thú Cửu-chân sức giấy đi khắp thiên hạ, ai lấy được đầu Đào Thế Kiệt, Đinh Đại thì được thưởng 1.000 lượng vàng, ai bắt một nội đồ của Đào gia thì được thưởng 500 lượng. Ai bắt được ngoại đồ của Đào gia thì được thưởng 200 lượng. Trong đám người theo lão, ít ra có ba nội đồ, 50 ngoại đồ và khoảng 60 gia đinh.

Đào Kỳ nghe Vũ Hỷ nói, thì mừng lắm. Như vậy bố, mẹ, cậu, mợ, anh chị, suy huynh chưa ai bị bắt. Có lẽ tất cả đang trên đường đào tẩu, nên thái thú mới treo thưởng để bắt.

Phương Anh chỉ Hoàng Thiều Hoa và Đào Kỳ:

– Hai người này có phải là đệ tử Đào gia chăng?

Hoàng Thiều Hoa hiên ngang bước ra nói:

– Đúng, ta là tam đệ tử cuả Đào gia. Nếu hai người có bản lĩnh thì lại đây bắt mà nạp cho người Hán.

Dứt lời nàng rút kiếm phóng một chiêu thần tốc vào mặt Phương Anh. Phương Anh không rút kiếm phản công, thị né người tránh khỏi, rồi dùng tay xỉa vào mặt Thiều Hoa. Thiều Hoa biến chiêu thần tốc, đảo kiếm thích vào mặt thị. Bấy giờ thị mới nhảy lui lại quát:

– Quả đúng là đệ tử Đào gia. Ta nghe trong trận chiến ở Ngọc-đường, ngươi đã đấu ngang tay với Lĩnh Nam công Nghiêm Sơn. Ta không tin, vì ngay sư phụ ngươi cũng không có bản lĩnh đó. Nay mới biết, quả thực ngươi có chút bản sự.

Nói rồi thị rút kiếm nhằm ngực Thiều Hoa xỉa tới.

Hai người đều là đệ tử danh môn chính phái, cũng là nữ lưu, kiếm pháp gần giống nhau. Người này ra chiêu thì người kia đỡ. Ánh kiếm cuộn lấy nhau như hai quả cầu bạc.

Phạm Bách đứng ngoài ngây người ra nhìn, ông tự nhủ:

– Sư đệ Đào Thế Kiệt quả thực là tài giỏi. Một thiếu nữ xinh đẹp thế kia, trông như một công chúa, đầy vẻ nhu mì, thế mà y huấn luyện thành một tay kiếm thuật, cầm cự được với Phong-châu song quái bằng ấy hiệp, kể cũng hiếm có trên thế gian này.

Đào Kỳ chỉ lanh lợi hơn Thiều Hoa, chứ võ công của nó còn kém xa sư tỷ. Đây là lần đầu tiên nó thấy sư tỷ đấu với người ngoài, nên ngây người ra xem. Còn Phương Anh dường như chỉ muốn giảo nghiệm võ công Thiều Hoa chứ thực sự y thị không muốn thắng ngay. Thiều Hoa biết đối phương võ công cao gấp mấy mình, chỉ khảo nghiệm mình, nên nàng không cần phòng vệ mà lo tấn công ráo riết.

Khoảng thời gia tàn nén hương, mồ hôi Thiều Hoa đã vã ra. Nàng đuối sức lui dần đến chân tường.

Đào Kỳ thấy sư tỷ lâm nguy, bất chấp đối phương võ công cao, nó múa trượng xông vào.

Vũ Hỷ lạng người đi một cái, đã nắm được đồng côn của Kỳ, y kẹp vào hai ngón tay, lơ đãng đứng xem cuộc chiến giữa vợ với Hoàng Thiều Hoa. Đào Kỳ dùng hết sức giật đầu côn ra, nhưng côn như đóng chặt vào tường, không nhúc nhích.

Nó nghĩ:

– Ta có cố gắng giằng lấy côn cũng vô ích, chi bằng dùng kế hay hơn.

Nó buông côn, nhảy lui lại quát lớn:

– Ngừng tay!

Thiều Hoa, Phương Anh cùng nhảy lui lại.

Đào Kỳ cười hề hề:

– Hai vị đây là cao nhân đương thời, nói thực ra, đến gia phụ chưa chắc đã thắng được các vị, huống hồ chúng tôi. Các vị là người có danh vọng tại sao lại đi hiếp người dưới, các vị không sợ thiên hạ chê cười sao?

Vũ Hỷ cười:

– Chê cười thì thiên hạ chê cười từ lâu rồi. Ta đâu có thèm lý đến những lời bình luận của người đời. Ta muốn gì thì làm. Ta há sơ ai?

Đào Kỳ cười:

– Tôi nghe cha tôi nói rằng Phong-châu song quái võ công trùm thiên hạ, nhưng có đặc tính là coi lời hứa nặng bằng non. Vậy thì thế này, xin nhị vị cho chúng tôi một cơ hội.

Phương Anh cười nhạt:

– Cứ nói.

– Bây giờ một trong hai vị đấu với tôi. Nếu tôi bại thì mặc quý vị muốn giết, muốn bắt làm trâu, làm ngựa gì cũng được. Còn lỡ mà tôi thắng nửa chiêu thì xin quý vị không được hại sư bá, sư huynh, sư tỷ của tôi.

Vũ Hỷ nói:

– Nếu ngươi chịu được của ta ba chiêu, thì ta sẽ tha cho các người khỏi chết.

Đào Kỳ cười ha hả tiến ra:

– Vậy chúng ta cứ thế mà làm.

Vũ Hỷ không tin rằng thằng nhỏ có thể chịu được ba quyền của y.

Y phóng chiêu quát lớn:

– Chiêu thứ nhất.

Y vừa phát chiêu, kình lực đã bao trùm người Đào Kỳ. Nó vội né người sang bên, nấp vào cột đền. Quyền của Hỷ đánh trúng cột đền kêu đến rầm một cái. Nóc đền rung rinh như muốn đổ.

Y quát:

– Ngươi không dám đỡ, mà tránh né, như vậy chiêu vừa rồi không kể.

Đào Kỳ nói:

– Ngươi nói, tôi chịu được ba quyền. Chữ chịu có nghĩa là gì? Tôi thấy có nghĩa là dùng võ khí chọi nhau, hoặc dùng quyền đỡ lại có đúng không?

Vũ Hỷ nói:

– Đúng.

Kỳ cười:

– Thế cột đền có thể làm vũ khí được không?

Hỷ thấy đứa trẻ này nói có lý, y gật đầu:

– Được, coi như chiêu thứ nhất.

Y phóng hai quyền vào thái dương Đào Kỳ theo thế Chung cổ tề minh. Y muốn đẩy Kỳ vào tường rồi bắt sống. Kỳ biến chiêu, xoè hai bàn tay ra đỡ vào quyền của Hỷ, rồi mượn thế nhảy lùi trở lại. Tuy nó không bị nguy hiểm, nhưng người cũng bị đập vào tường. Nó cố nhịn đau, từ từ đứng dậy, nhưng ngực muốn như nghẹt thở:

– Hai chiêu!

Vũ Hỷ cười:

– Trận chiến ở Ngọc-đường cảng Bắc, đến cậu ngươi là Đinh Đại cũng chỉ chiụ được có năm quyền của ta, suýt mất mạng, huống hồ là ngươi. Anh cả Nghi Sơn của ngươi cũng chỉ chịu được có ba quyền, nay ngươi còn nhỏ, hơi sức được làm bao?

Đào Kỳ đã đứng dậy được, nhăn nhó:

– Còn một quyền nữa. Lần này tôi ra tay trước đây.

Nói xong nó tiến lên, múa quyền đánh vào ngực Hỷ. Vũ Hỷ không coi Đào Kỳ vào đâu. Y ưỡn ngực ra chịu đòn.

Thế quyền của Đào Kỳ rất quái dị, rõ ràng đánh thẳng vào ngực, nhưng đi đến nửa đường thì lại biến thành chỉ chọc vào mặt Vũ Hỷ. Vũ Hỷ hoảng hồn ngửa cổ ra sau tránh, thì Kỳ đã dùng tai tay chụp vào vai y, đồng thời thúc hai đầu gối vào bụng y, nhảy vụt lên cao, bay qua đầu y. Khi còn lơ lững trên không, nó phóng chưởng xuống đỉnh đầu Vũ Hỷ.

Bốp một tiếng, Hỷ loạng choạng lùi lại.

Vũ Hỷ trúng chưởng đau quá, đầu óc choáng váng, y đá Đào Kỳ một cái lăn long lóc, quát lớn:

– Phục ngưu thần chưởng!

Đào Kỳ gượng gạo đứng dậy:

– Phục ngưu thần chưởng thì đã sao! Cái này không phải bố ta dạy ta.

Đào Kỳ gượng gạo đứng dậy:

– Phục ngưu thần chưởng thì đã sao! Cái này không phải bố ta dạy ta.

Vũ Hỷ nói:

– Dĩ nhiên cha ngươi không biết chưởng pháp này. Vậy ai đã dạy mi? Mi phải nói mau? Nếu mi không nói thì ta có biện pháp bắt mi phải nói.

Kỳ bướng bỉnh:

– Ta không nói. Ngươi thua rồi, đại trượng phu nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy, ngươi không được làm khó chúng ta nữa.

Vũ Hỷ nói:

– Ta chỉ hứa tha chết cho các ngươi, chứ không hứa tha bắt các ngươi nộp quan. Ta phải mang ngươi đi theo, cho đến khi nào ngươi chịu khai ra ai đã dạy chưởng pháp này cho ngươi.

Nói xong y chụp lưng áo Đào Kỳ ra hiệu cho vợ, cùng vọt ra cửa.Thiều Hoa thấy tiểu sư đệ bị Vũ Hỷ bắt, nàng biết không phải đối thủ của y, nhưng không lẽ để y bắt tiểu sư đệ đi?

Nàng quát lớn:

– Oài! Oài! Mi bắt sư đệ ta đi đâu?

Miệng nói, tay nàng phóng chưởng. Chưởng của nàng là chiêu Hải triều lãng lãng có năm lớp. Chưởng vừa phát kình lực đã bao trùm Phương Anh. Phương Anh biết chưởng này lợi hại, thử cũng phóng chưởng đỡ. Bốp một tiếng, cả hai lùi lại một bước.

Phương Anh khen:

– Khá lắm, lần đầu tiên trên đời ta, có một ngưởi đàn bà khiến ta phả lùi lại một bước.

Chiêu này có năm lớp, lớp thứ nhất đánh thẳng, lớp thứ nhì chuyển vòng từ dưới lên trên, mạnh gấp đôi lớp thứ nhất. Phương Anh hít một hơi vận khí đở. Bùng một tiếng, thị lùi một bước nữa.

Thị quát lớn:

– Giỏi đấy!

Thiều Hoa phóng lớp thứ ba, lớp này hai tay cùng ra chiêu, một đánh thẳng, một đánh từ trên xuống dưới. Phương Anh biết thế chưởng hung dữ vô cùng, không dám coi thường, chân đứng theo đinh tấn, tay phải đỡ chưởng trên, tay trái đở chưởng dưới, hai tay hợp lại thành một chiêu. Hai chưởng gặp nhau, bùng một tiếng, mụ lui lại một bước. Trong khi Thiều Hoa lùi ba bước, lảo đảo muốn ngã.

Nguyên thức chưởng Hải triều lãng lãng do Thục An Dương vương chế ra trong lúc uất khí chồng chất, công lực không có chỗ phát tiết, nên được dịp phát, mạnh vô cùng. Thành ra người sau muốn sử dụng được năm lớp thì công lực phải thực cao. Thiều Hoa là một thiếu nữ 18 tuổi, công lực chưa được làm bao, phát hai lớp đầu, đã muốn cạn chân khí. Đến lớp thứ ba tuy chưởng có ra thực, nhưng không còn đủ sức phát huy hết uy lực, nên chỉ mạnh bằng lớp thứ nhì mà thôi. Trong khi đó, Phương Anh là một đệ nhất cao nhân đương thời, đã có trên 25 năm công lực, thì Thiều Hoa bị lạc bại là phải.

Phương Anh gật đầu:

– Kể ra với tuổi của ngươi, võ công đến trình độ này cũng gọi là hiếm có trên đời. Ta không giết ngươi đâu.

Vèo một cái Song Quái đã biến vào đêm tối. Thiều Hoa kêu lớn:

– Tiểu sư đệ! Tiểu sư đệ!

Ngoài trời mưa Thu rả rích trên mái ngói, tiếng dế rên rỉ đáp lại, không có tiếng người. Hoàng Thiều Hoa khóc rấm rức.

Phạm Bách an ủi:

– Hai quái nhân này, ta e rằng hiện nay không có ai địch nổi chúng nữa. Chúng bắt Đào Kỳ đi theo chỉ với mục đích tra xét võ công, chứ không hại nó đâu, cháu yên tâm.

Hai người xuống nhà bếp để tìm đám đệ tử, thì thấy tất cả đều bị trói nằm la liệt dưới đất. Hai người vội cởi trói, gỡ giẻ nhét ở mồm mọi người ra. Không ai bị thương.

Phạm Bách hỏi:

– Việc gì đã xảy ra?

Một đệ tử Phạm gia nói:

– Chúng con nấu cơm xong chưa kịp ăn, thì có một nam, nữ vào đánh chúng con. Võ công chúng cao quá nên mỗi chiêu đánh ra, một người ngã. Rồi chúng trói chúng con lại. Dường như chúng không có ác ý, nên không giết hoặc hành hạ một ai cả. Sư phụ, chúng là ai lại vậy?

Phạm Bách đáp gọn lỏn:

– Phong-châu song quái.

Mọi người ồ lên một tiếng, lộ vẻ khủng khiếp.

Đám đệ tử Đào gia, ít lui tới giang hồ, nên không biết Phong-châu song quái. Còn đệ tử Phạm gia thì đa số theo sư phụ buôn bán ngược xuôi, nên đã từng nghe danh nhị quái. Chúng thường có hành tung bí mật, mỗi hoạt động đều quái dị. Khó có thể đoán chúng là chính phái hay tà phái. Người ta chỉ biết một điều là chúng làm việc cho người Hán. Chúng qua lại khắp các châu Giao-chỉ, Cửu-chân, Nhật Nam. Nhất là dọc con sông Hồng-hà, sông Đuống, sông Luộc. Đâu đâu chúng cũng nổi danh tàn ác vô cùng, không việc gì mà chúng không dám làm.

Trịnh Quang vẫn còn nằm trên giường hỏi Hoàng Thiều Hoa:

– Sư muội, tiểu sư đệ đâu?

– Bị người ta bắt đi rồi.

Quang ngạc nhiên:

– Là ???

– Phong-châu song quái.

Thiều Hoa mắt ênh ếch những nước. Trong các đệ tử, con cháu của Đào gia thì nàng thương Đào Kỳ nhất. Bởi Đào Kỳ thông minh lanh lợi, ngoan ngoãn dễ dạy. Thiều Hoa thường dẫn Đào Kỳ đi chơi núi, bờ bể, chị em nô đùa bên nhau. Đào Kỳ tính hay đùa nghịch, nhưng mỗi lần nó phá quá, Thiều Hoa liếc mắt tỏ vẻ không bằng lòng là nó lại thôi ngay. Nó học văn, học võ đều giỏi, nhưng hay bày biện lộn xộn. Thiều Hoa phải lo xếp dọn giúp nó. Tiếng rằng sư tỷ, sư đệ, nhưng Thiều Hoa vừa đóng vai bà mẹ, lại kiêm bà chị bên cạnh Đào Kỳ. Nay biến cố xảy ra, nhà tan cửa nát. Sư phụ, sư mẫu, sư huynh không biết phiêu bạt, sống chết ra sao? Còn đứa em duy nhất cũng bị người ta bắt đi mất, cho nên nàng khóc rấm rức.

Trịnh Quang an ủi nàng:

– Sư muội! Hiện thời võ công ta chưa phục hồi, cần phải ẩn náu dưỡng thương ít lâu, sau đó mới có thể lên đường tìm sư phụ, sư mẫu và các sư huynh, sư đệ.

Phạm Bạch dục đệ tử bưng mâm cơm lên cúng Cao Nỗ rồi cùng ngồi ăn với nhau. Bữa ăn yên lặng, buồn thảm.

Ăn xong Thiều Hoa hỏi Trịnh Quang:

– Sư huynh, cuộc chiến ở cảng Bắc ra sao? Tại sao sư huynh lại bị thương đến mê man như vậy?

Trịnh Quang nhắm mắt để tưởng lại cuộc chiến đêm đó, rồi thuật:

“…Ta tuân lời sư phụ, cùng mã phu Nguyễn Ngọc Danh về đón chị và các cháu. Sau khi thu xép hành trang, chúng ta trở lại trang, thì thấy lửa cháy ngụt trời, trong trang không một bóng người, chỉ có xác hai, ba tráng đinh nằm chết ở giữa sân. Ta nghe thấy có tiếng rên trong dàn hoa thiên lý, vội vào tìm kiếm, thì thấy chị Cúc, mình mẩy đầm đìa những máu. Chị bị một mũi tên trúng ngực, nhưng chưa chết. Chị cho biết trong lúc theo sư muội chạy ra biển, chị bị trúng tên, rồi bị quân Hán bắt tra khảo để biết rõ kế hoạch của sư phụ. Chị từ chối rằng chị là phận tôi tớ, chỉ biết hầu hạ, không biết gì cả. Chị cho ta biết, mọi người đang ở trong cảng Bắc. Ta cùng vợ con, mã phu Danh bồng chị chạy lên cảng. Giữa đường, chị chết. Ta đành bỏ xác chị ở ven núi. Ta tới cảng Bắc thì thấy sư phụ,sư mẫu, Nghi Sơn, Biện Sơn, đại sư ca, Đinh sư thúc, Đinh phu nhân và đông đủ cả đã xuống chiến thuyền hải quân. Thuyền rời bến được mươi trượng. Phía sau giặc đang ào tới.

Ta kêu cứu:

– Sư phụ, sư mẫu cứu con với.

Sư phụ vẫy cho đoàn thuyền ra khơi, còn chiếc của người quay lại bờ đón ta. Sư phụ, sư mẫu nhảy lên bờ bồng con ta, còn ta thì bồng vợ, rồi cùng nhảy xuống thuyền. Thuyền vừa quay mũi ra thì ba người từ trên bộ phi thân xuống. Thân pháp của chúng rất kỳ diệu, người còn ở trên không đã phóng chưởng đánh xuống. Sư phụ, sư mẫu, Đinh sư thúc đồng quay lại phóng chưởng đỡ. Ta nghe đến bùng một cái. Sư mẫu loạng choạng ngã ngồi xuống thuyền, sư phụ lảo đảo lùi lại. Đinh sư thúc thì ôm ngực lắc lư, miệng phun ra máu”.

Thiều Hoa ái chà một tiếng. Vì nàng biết sư phụ và sư thúc Đinh Đại nổi tiếng là Cửu-chân song kiệt, võ công cao thâm không biết đâu mà lường, tại sao chỉ một chiêu đã bị lạc bại, điều mà nàng không thể tưởng tượng được. Không ngờ trong hàng ngũ quân Hán lại có ba cao thủ đến dường ấy?

Trịnh Quang thở dài:

– Sư muội ngạc nhiên phải không? Nếu sư muội biết rõ ba người đó là ai, thì sư muội không ngạc nhiên đâu.

– Nó là ???

– Phong-châu song quái và Nghiêm Sơn.

Tất cả mọi người đều “ồ” lên, không ai kinh ngạc nữa.

Phạm Bách nói:

– Phong-châu song quái làm việc cho phủ Tế-tác Cửu-chân. Thái thú Cửu-chân Nhâm Diên cầu viện với Lĩnh Nam công là Nghiêm Sơn. Sơn mới đem quân vào đánh Đào, Đinh trang.

Trịnh Quang kể tiếp:

“…Sư phụ hít một hơi dài, chân khí đã phục hồi được đôi chút, chưa biết phản ứng sao thì Vũ Hỷ đã nói:

– Tưởng Cửu-chân song kiệt thế nào, không ngờ chỉ có vậy thôi à?

Sư mẫu nhìn ba đối thủ ngẫm nghĩ một lúc rồi nói:

– Thì ra hai vị đây là Phong-châu song quái, thật là hân hạnh chúng tôi mắt kém nhìn không ra. Còn vị tướng quân đây là…

Người tướng trẻ đó là Nghiêm Sơn, y đấu chưởng với Đinh sư thúc, chỉ một chưởng khiến sư thúc phải phun máu miệng, thì đủ tỏ công lực y không phải tầm thường. Y không trả lời, lùi lại một bước, ánh đao bạc lấp lánh, không rõ y rút đao ra, tra đao vào võ như thế nào, mà người tài công lái đò đầu bị gọt nhẵn bóng, tóc rơi lả tả theo gió.

Sư mẫu la lên:

– Thì ra Lĩnh Nam công, Bình Nam đại tướng quân đây! Thảo nào võ công cái thế. Tôi nghe Nghiêm tướng quân cùng sáu vị huynh đệ được Hán Quang Vũ cử sang Lĩnh Nam để kinh lược. Bọn Thái-thú bỏ Vương Mãng theo Hán. Chỉ với sáu người, Nghiêm tướng quân làm cho các Thái-thú Giao-chỉ, Cửu-chân, Nhật-nam, Quế lâm, Nam-hải, Tượng-quận, cúi đầu quy phục Hán. Không hiểu tướng quân với Thái-thú Cửu-chân, ai là người có quyền hơn?”

Nguyên sau khi Nghiêm Sơn cứu Quang Vũ, khởi binh ở Côn-dương, chiếm được gần hết Trung-nguyên. Khi chiếm được Kinh-châu, Quang Vũ thấy đất này không vững, vì phía sau là sáu quận Lĩnh Nam, còn theo Vương Mãng. Quang Vũ bàn với Nghiêm Sơn, phải cử người kinh lược sáu quận, để có thêm lương thực, vũ khí tranh hùng với Trung-nguyên.

Nghiêm Sơn khẳng khái nhận lời ra đi với Hợp-phố lục hiệp.

Nghiêm Sơn bí mật sang Giao-chỉ dò thám, thì được biết các Thái-thú đang phân vân chờ thời. Y bàn cùng Hợp-phố lục hiệp đến Luy-lâu dò thám tình hình. Tháiù-thú Giao-chỉ là Tích Quang trong cuộc tiếp xúc với Nghiêm Sơn, y biết được sứ mạng của Nghiêm Sơn và Hợp-phố lục hiệp, nên y quy phục Hán. Tuy nhiên Sơn là Lĩnh nam công, Bình nam đại tướng quân, nhưng chàng vẫn là một ông vua không có quân, vì binh quyền địa phương đều thuộc các thái thú cả. Chàng nghĩ được một kế, là đi mời các hào kiệt địa phương ra làm quan, để thu phục lòng người. Chàng nghe đồn tại Cửu-chân có Đào Thế Kiệt, Đinh Đại là hai người trí dũng song toàn. Chàng muốn mời ra làm quan, hầu tổ chức thành phủ Lĩnh Nam công như một triều đình con. Không ngờ thái thú Nhâm Diên lại báo cáo rằng Đào, Đinh là hai đầu trộm đuôi cướp, y xin Nghiêm mang quân tiểu trừ. Chàng vội điều quân từ Giao-chỉ vào Cửu-chân để dẹp giặc.

Nhưng giữa đêm khuya, chàng gặp Thiều Hoa, Đào Kỳ. Chàng là người văn võ kiêm toàn, lại ở địa vị cao, thường mơ màng một bóng giai nhân ôn nhu văn nhã mà phải biết võ thuật. Chàng được mai mối cho không biết bao nhiêu tiểu thư con cháu quan lại trong các phủ Thái-thú. Ngặt một điều người biết võ thì thô kệch, cục súc; người đọc sách ôn nhu thì lại mềm yếu, không thể cùng luận bàn võ công, phi ngựa lên núi, xuống biển, bôn ba giang hồ. Nay bỗng nhiên gặp nhan sắc tuyệt thế của Hoàng Thiều Hoa với vẻ ôn nhu văn nhã, võ côn không kém gì Nghiêm. Trong óc Nghiêm hiện lên mối tình lãng mạn giữa Mỵ Châu, Trọng Thuỷ thuở nào. Cho nên giữa lúc phủ Thái-thú bị đốt phá, Thái-thú hoang mang, nhờ Nghiêm đem quân cứu viện, mà Nghiêm cứ chần chờ.

Nghiêm vờ đấu với Thiều Hoa để biết võ công nàng hơn là đánh thực tình. Cảnh Thiều Hoa e lệ, còn Đào Kỳ thì mồm năm, miệng mười liếng thoắng, gần như ngỏ ý ghép Nghiêm với sư tỷ của y khiến hồn phách Nghiêm như ngây, như dại. Khi từ biệt, Đào Kỳ còn cướp nhánh hoa cúc bằng vàng trên mái tóc Thiều Hoa tặng Nghiêm, khiến Nghiêm lâng lâng như muốn bay bổng lên cao. Nghiêm đeo cành hoa đó trước ngực.

Nay nghe Đào phu nhân hỏi Nghiêm ở địa vị trên hay dưới Thái-thú Cửu-chân thì Nghiêm không biết trả lời sao? Nghiêm biết bà là sư mẫu của Thiều Hoa, vì thần nên nể cây đa. Nghiêm không dám vô lễ.

Nghiêm khiêm tốn đáp:

– Không dám, vãn bối là Lĩnh Nam công, trấn nhậm toàn vùng Lĩnh Nam. Còn Nhâm Diên là chúa tể vùng Cửu-chân.

Đào phu nhân thấy trên ngực Nghiêm cài bông hoa của Thiều Hoa, bà kinh sợ: Không biết Thiều Hoa và Đào Kỳ có mệnh hệ nào không?

Bà run run hỏi:

– Nghiêm tướng quân, chẳng hay tướng quân có gặp tệ đồ Thiều Hoa và khuyển tử Đào Kỳ?

Nghiêm Sơn đáp:

– Trước đây hai giờ, vãn bối có gặp một tiểu anh hùng, võ công cực cao, nghị luận như gươm treo, thực là Hạng Thác tái sinh. Bên cạnh đó là một vị thiên kim tiểu thư, nhan sắc tuyệt thế. Vãn bối có qua lại mấy chiêu với hai vị đó. Được hai vị nhường đường cho đi.

Đào phu nhân tuổi đã ngoài 40, bà cùng chồng dạy dỗ trên trăm đệ tử vừa nam vừa nữ, nên bà rất rành tâm lý tuổi trẻ. Bà thấy Nghiêm Sơn rõ ràng thắng mình, chỉ cần trở tay là bắt được ông bà cùng Đinh Đại. Thế mà y không bắt, cũng không cho Song-quái ra tay. Y còn nói năng lễ độ với bà. Bà biết y có tình ý với Thiều Hoa. Bà biết Thiều Hoa không bị giết, cũng không bị bắt. Nếu nàng bị bắt, thì việc gì Nghiêm Sơn phải mê mẫn đeo bông hoa bên mình?

Bà thấy Nghiêm thực tình, cũng không muốn khách sáo nữa:

– Nghiêm tướng quân bảo tệ đồ và khuyển tử nhường cho ngài ư? Thực ra ngài đã tha cho chúng thì đúng hơn.

Phu nhân ngừng một chút rồi nói một mình:

– Thực là chân tài, lại thêm nhũn nhặn nữa, sự nghiệp tướng quân sau không phải nhỏ.

Bây giờ thuyền đã ra khỏi khá xa, Nghiêm Sơn chắp tay vái ông bà Đào Thế Kiệt, rồi nhảy ùm xuống biển bơi vào bờ. Còn Phong-châu song quái túm lấy Trịnh Quang:

– Ta vì Nghiêm tướng quân, không gây hấn với Đào trang nữa, nhưng tên này phải chèo mủng đưa ta vào bờ.

Trịnh Quang kết luận:

– Trên thuyền hải quân có chiếc mủng nỏ, ta phải chở song quái vào bờ. Tới bờ Vũ Hỷ túm lấy ta, liệng lên không rồi đánh một chưởng. Ta ngất xỉu không biết gì nữa, cho tới lúc sư muội lại cứu.

Kể chuyện xong, Trịnh Quang mệt quá, nằm ngủ thiếp đi. Nhưng Thiều Hoa lại mơ màng, hình ảnh Nghiêm Sơn tuấn mã, uy dũng hiện lên trước mắt nàng.

Chương 4: Tình Trong Như Đã, Mặt Ngoài Còn E

Sau đêm kinh hoàng ở đền thờ Cao Nỗ, đoàn người lại tiếp tục lên đường. Phạm Bách chỉ những phong cảnh, những suối, những đèo, những hang đầy hoa thơm cỏ lạ cho Thiều Hoa. Nhưng trong lòng nàng như mơ như tỉnh, đâu có biết ngoại vật là gì.

Đến địa phận núi Tam-thai, Phạm Bách nói:

– Tại đây có đền thờ vua Hùng-vương, trong đền có cái trống đồng bằng ba người ôm. Trống này là lễ vật của Sơn Tinh dâng cho vua để cầu hôn với công chúa Mỵ Nương, nay vẫn còn nguyên. Chúng ta vào đó nghỉ ngơi và lễ tổ.

Ghi chú của thuật giả:

Trống đồng này hồi trước 1950 vẫn còn tại núi Tam-thai, trong vùng núi Lam-sơn, Thanh-hoá. Đi từ thị xã Thanh-hoá về phía Tây Bắc 38 km gặp sông Mã, vượt bến Kiều sang đất Vĩnh-lộc. Gần bến Kiều có núi Xuân-đài, động Hồ-công, trong có nhiều nhũ đá, hang đá, tượng đá rất đẹp. Trong hang có khắc thơ Lê Thánh-tông và các danh sĩ đời xưa. Kế đến là Đan-nê, nằm cạnh núi Tam-thai. Trên núi có miếu Đồng-cổ. Trong miếu còn di tích cái trống đồng. Mặt trống đường kính 1,10 m, cao 0,50 m (Hồi thơ ấu, 8 tuổi, tôi được dẫn qua đây, ước lượng kích thước). Trên mặt trống có chín vòng tròn, giữa trống có rốn, lưng trống có khắc nhiều chữ, nhưng đã mờ, đọc không rõ. Tương truyền trống là di vật của thánh Tản-viên dâng vua Hùng làm sính lễ cầu hôn công chúa Mỵ Nương. Đây là những tài liệu ghi được của trường Viễn-đông Bác-cổ trước 1954. Không biết cho đến nay, biết bao tang thương đã qua, miếu và trống có còn hay không?

Đoàn người tiến vào đền. Trịnh Quang đã chập chững đi được. Phạm Bách chỉ tượng vua Hùng ngồi trên ngai nói:

– Đây là tượng Lạc Long quân.

Thiều Hoa nhìn lên, thì thấy một người ngồi uy nghi trên ngai vàng, nhưng đầu hơi giống đầu rồng.

Nàng nghĩ thầm:

– Thì ra Lạc Long quân là loài rồng. Hèn chi người Việt mình cứ tự hào là con rồng, cháu tiên?

Nàng hỏi Phạm Bách:

– Thưa sư bá, còn mấy ngày nữa thì tới Hoa-lư?

– Độ năm ngày thôi.

– Sư bá nói, gửi chúng cháu tại Cao gia trang. Cao gia đây có phải là giòng dõi của đại tướng Cao Nỗ không?

– Đúng, Cao trang chủ hiện nay tên là Cao Cảnh Sơn, cháu bảy đời Cao Nỗ. Họ Cao thế lực rất lớn, có tới bảy trang khắp vùng núi Hoa-lư, Tam-điệp, Dục-thuý, tổng số người trong trang lên đến mấy vạn. Chúng ta vào đó an trí đám sư đệ này rồi ta với Trịnh Quang và cháu đi tìm sư phụ cháu.

Thiều Hoa mắc chiếc võng lên hai cây đào nằm. Nàng cố dỗ mắt mà không sao nhập được giấc ngủ. Hình ảnh Nghiêm Sơn lại hiện lên, với dáng điệu phong lưu tiêu sái. Rồi trong đầu nàng lại lởn vởn những lời giáo huấn của sư phụ sư mẫu về cái gương Mỵ Châu lấy chồng ngoại tộc, vì nhất tâm với chồng, làm mất nước. Trải 184 năm mà chưa khôi phục được.

Có tiếng người đi nhè nhẹ, nàng lắng tai nghe: Tiếng chân bước rất nhẹ nhàng, và mau, rõ ràng là tiếng chân của một cao thủ.

Nàng tự hỏi: Ai đây?

Nếu là tiếng chân của Phạm Bách thì nặng chịch, và lão không có trình độ võ công cao. Với bước chân này chỉ sư huynh đệ của nàng mới có thể đạt tới. Mà ở đây thì Trịnh Quang bị thương nặng, bước đi muốn không nổi, còn ai đâu? Phản ứng thực nhanh, nàng lộn khỏi võng, nằm sát mặt đất, hướng mặt về phía tiếng đi, thì thấy một bóng đen chạy ra đường cái lui húi vạch mấy vạch vào bên đường rồi trở về.

Nàng tự nhủ:

– Thế thì trong đám đệ tử Đào, Phạm gia không quá mười người này có gian tế. Chúng định làm gì đây? Ta phải theo dõi mới được.

Các biến cố từ khi rời Phạm trang đều lần lượt hiện ra trước mắt nàng: Cái chết của Tường Loan đầy bí mật. Cuộc chuẩn bị của Phạm Bách chỉ người nhà mới biết, mà bị Song-quái biết. Bất cứ đoàn người đi ngả nào, Phong-châu song quái cũng theo kịp. Ta phải tìm cho ra ai là gian tế? Hắn làm gian tế cho ai?

Sáng hôm sau, nàng ra chỗ bóng đen vẽ vạch bên đường thì thấy viết chữ Hoa-lư, Tam-điệp, Dục-thuý. Bên cạnh vẽ một chữ Vạn.

Thiều Hoa tỉnh ngộ:

– Thì ra gian tế báo tin cho đồng bọn biết đường đi của bọn mình. Nhưng chúng báo cho ai đây? Cho quân Hán hay cho Phong-châu song quái?

Nàng lấy đất chà hết các dấu hiệu rồi trở vào đền cùng đoàn người tiếp tục lên đường. Trong khi đi đường, nàng chú ý quan sát cử chỉ, hành động từng người, nhưng tuyệt không có gì đáng nghi.

Chợt nhớ ra điều gì nàng hỏi Phạm Bách:

– Sư bá, hôm trước trong lúc tiểu sư đệ giao chiến với Phong-châu song quái, y có dùng một chiêu thức rất kỳ quái, cháu chưa từng thấy qua. Với chiêu thức đó, y làm cho Vũ Hỷ trúng đòn, rồi Vũ Hỷ kêu lên “Phục ngưu thần chưởng”. Thưa sư bá, chưởng đó là chưởng gì, cháu chưa từng nghe sư phụ, sư mẫu nói qua, thì làm sao tiểu sư đệ biết mà sử dụng. Lại nữa, thế quyền đó bao hàm: Quyền, chỉ, trảo, cước biến hoá vô cùng, những biến hoá đó không nằm trong nguyên lý võ thuật Cửu-chân.

Phạm Bách gật đầu:

– Ta nghĩ cũng không ra. Chúng ta học võ Cửu– chân, gốc ở Vạn-tín hầu Lý Thân, sau truyền đến Trung-tín hầu Vũ Bảo Trung… Dù quyền, cước, chỉ, trảo chăng nữa cũng nằm trên một nguyên lý. Nhưng tiểu sư đệ của cháu sử dụng chiêu thức đó nằm ngoài nguyên tắc Thục gia. Mà chỉ với một chiêu, tiểu sư đệ cháu làm cho Vũ Hỷ kinh hồn, đến nổi bắt mang đi tra hỏi, chắc phải có nguồn gốc ghê gớm lắm. Đợi sau này gặp sư phụ cháu, cháu nên hỏi, may ra biết được.

Ông quay sang Trịnh Quang:

– Cháu có nghe sư phụ, sư mẫu đề cập đến quyền pháp này không?

Trịnh Quang gật đầu:

– Một lần đứng hầu Đinh sư thúc với sư phụ cháu, cháu có nghe lõm về quyền pháp ấy. Đinh sư thúc nói rằng nguồn gốc võ học Lĩnh-nam có hai: Một là Văn– lang, hai là Âu-lạc. Võ công Văn-lang cổ nhất do Phù-đổng Thiên-vương chế ra. Sau khi đánh giặc xong, ngài lên núi Sài-sơn (Sóc-sơn) hưởng nhàn, dạy đệ tử, lập ra phái Sài-sơn còn truyền đến ngày nay. Cuối đời Hồng-bàng, một thiên tài võ học nữa xuất hiện là phò mã Sơn Tinh. Ông sáng chế ra Phục ngưu thần chưởng, gồm 36 chiêu rất cương mãnh. Với chưởng pháp này, ông thắng Thủy Tinh, cưới được Mỵ Nương, rồi lên hưởng hạnh phúc ở núi Tản-viên, lập ra phái Tản-viên còn lưu truyền đến nay. Sư phụ của Phong-châu song quái là người phái Tản-viên.

Chàng ngừng lại, nhăn nhó, tỏ ra còn đau đớn:

– Còn nguồn gốc thứ nhì, phát xuất từ đất Tây-vu, tức quê hương của Thục An Dương vương. Khi An Dương vương dựng nghiệp thì có các võ tướng theo phò tá là Vạn-tín hầu Lý Thân, Cao-cảnh hầu Cao Nỗ, Trung-tín hầu Vũ Bảo Trung tức ông Nồi. Một văn quan làm quân sư là Phương-chính hầu Trần Tự-Minh. Khi đại nghiệp thành, An Dương vương cùng các tướng trao đổi võ công với nhau thành ra võ Âu-lạc. Võ Âu-lạc chia ra Cửu-chân là giòng dõi Trung-tín hầu Vũ Bảo Trung. Phái Long-biên giòng dõi của Vạn-tín hầu Lý Thân. Phái Hoa-lư giòng dõi Cao-cảnh hầu Cao Nỗ.

Thiều Hoa hỏi:

– Sư huynh, thế Phục ngưu thần chưởng là võ công của Văn-lang sao?

Trịnh Quang gật đầu:

– Đúng! Phong-châu song quái là người của phái Tản-viên, mà phái Tản-viên là đời sau của Sơn Tinh.

Phạm Bách hiểu ra giải thích:

– Vậy thì ta hiểu rồi. Phục ngưu thần chưởng là võ học trấn sơn của Văn-lang, nhưng nay đã thất lạc. Song-quái chỉ học được có vài chiêu, nên khi Kỳ sử dụng là chúng biết ngay. Có lẽ chúng bắt Kỳ để tìm hiểu xem có liên hệ gì với phái Tản-viên không, hoặc để tra hỏi tìm lại võ học phái họ đã mất. Cháu yên tâm, Đào Kỳ không gặp nguy hiểm đâu. Có điều lạ lùng là tại sao Kỳ lại biết võ công phái Tản-viên. Này Thiều Hoa!

– Dạ, cháu nghe.

– Ngoài sư phụ, sư mẫu ra, Kỳ có học võ với ai nữa không?

Thiều Hoa nhíu mày ngẫm nghĩ một lúc rồi nói:

– Có! Tiểu sư đệ học văn với Nguyễn Thành Công tiên sinh. Nhưng Trần tiên sinh không biết võ, thì làm sao mà dạy tiểu sư đệ được? Có điều trong tất cả các đệ tử học văn của tiên sinh thì tiểu sư đệ được cưng nhất. Tiên sinh thường dẫn tiểu sư đệ dạo chơi núi Nghi-sơn, Biện-sơn, và nhất là đền thờ An Dương vương với Mỵ Châu. Có lần tiên sinh thấy chiếc áo quàng trên tượng Mỵ Châu cũ quá, tiên sinh về mướn người may một cái áo lông ngỗng mới thay vào, và cất cái áo cũ đi.

Phạm Bách đập tay đánh chát một cái la lớn:

– Có thể là ông ấy!

Thiều Hoa hỏi:

– Bác muốn nói là ai?

– Ta muốn nói chính ông thầy đồ đó đã dạy chiêu Phục ngưu thần chưởng cho tiểu sư đệ cháu.

Trịnh Quang lắc đầu không phục:

– Sư bá dạy sai rồi, nếu Nguyễn Thành Công tiên sinh là cao nhân phái Tản-viên thì sư phụ cháu đã biết mặt, làm sao ông có thể giả làm thầy đồ được?

Thiều Hoa nói:

– Vừa rồi Song-quái bắt tiểu sư đệ đi, chúng mang cả cây trượng của Cao Cảnh hầu đi rồi.

Phạm Bách gật đầu:

– Cây trượng ấy là của vua Hùng, lúc Cao Nỗ đánh chiếm nước Văn-lang thì lấy được. Sau ngày Cao tướng quân tuẫn quốc, gậy vẫn được để thờ ở đền cho đến nay.

Chiều hôm ấy đoàn người đi đến địa phận Hoa-lư. Đang đi thì gặp bảy kỵ mã, họ trang phục theo lối quan binh người Hán. Nghiêm Sơn dẫn đầu đoàn kỵ đó. Từ đằng xa, thấy Thiều Hoa, chàng đã xuống ngựa đứng bên đường chào:

– Quế-lâm Nghiêm Sơn kính chào Phạm tiên sinh và Hoàng cô nương.

Phạm Bách thấy chàng không có ác ý, còn sáu đồng bọn dừng ngựa đứng xa xa. Oâng yên tâm. Ông kinh ngạc tự nghĩ:

– Tên Hán này là bạn thân của vua Quang Vũ nhà Hán, tước phong tới Lĩnh Nam công Bình-nam đại tướng quân. Uy quyền bao trùm sáu quận Lĩnh-nam. Bình thường ta muốn gặp một viên huyện uý, huyện lệnh cũng còn khó hơn bắc thang lên trời. Mà huyện uý, huyện lệnh đối với Lĩnh-nam công thì như hạt vừng, hạt đậu so với trái núi. Bây giờ y lại khách sáo với ta thế này thì thực là kỳ lạ.

Ông chắp tay hành lễ:

– Tên nhà quê Phạm Bách xin kính cẩn ra mắt Bình-nam đại tướng quân.

Nghiêm Sơn liếc nhìn Hoàng Thiều Hoa, thấy nàng nháy mắt hai lần. Chàng đoán ra Thiều Hoa có điều gì muốn nói riêng với chàng. Chàng hướng vào Phạm Bách:

– Phạm tiên sinh! Tiên sinh cho vãn bối đi cùng đường cho vui được chăng?

Phạm Bách nói:

– Chúng tôi là người làm ăn buôn bán, được Quốc-công đi chung, thì còn gì hân hạnh hơn nữa!

Đoàn người của Nghiêm Sơn xuống ngựa, cùng đi bộ theo Phạm Bách. tới một mỏm núi, thì ngồi lại nghỉ mệt.

Thiều Hoa nói với Nghiêm Sơn:

– Lâu ngày quá tôi không cỡi ngựa. Tướng quân có thể cho tôi mượn ngựa cỡi trong chốc lát được không?

Nghiêm Sơn cảm thấy người lâng lâng như bay lên mây:

– Nếu cô nương muốn, thì tôi xin tặng cô nương con ngựa này.

Chàng dắt con ngựa của mình lại bên Thiều Hoa.

Thiều Hoa e dè:

– Ngựa của tướng quân là tuấn mã, nó chỉ nghe lời chủ thôi, xin tướng quân chỉ cho tôi cách điều khiển, thì tôi mới dám cỡi.

Nghiêm Sơn nói:

– Được, cô nương cứ cỡi nó. Tôi sẽ cỡi con ngựa khác chạy theo cô nương, nếu nó dở chứng, tôi bắt nó phải ngoan ngoãn.

Thiều Hoa nháy mắt hai cái. Nghiêm cho rằng nàng có tình ý với mình, muốn hẹn nhau chỗ vắng tình tự. Người chàng như muốn bay lên mây. Thiều Hoa thét lên một tiếng thảnh thoát, uốn mình phi thân lên ngựa, lưng nàng uốn cong coi rất ngoạn mục. Nàng ra roi cho ngựa chạy vào ven rừng. Nghiêm Sơn phi ngựa theo. Đến một khúc quanh, Thiều Hoa đi chậm lại, Nghiêm Sơn cho ngựa đi song song với nàng.

Thiều Hoa hỏi:

– Nghiêm đại ca, tôi hỏi thực đại ca một điều, trong bọn mười người chúng tôi có ai là người của đại ca gài vào làm gian tế không?

Nghiêm Sơn đáp:

– Không, không có một người nào cả. Nếu có thì là của phủ Tế– tác Cửu-chân hoặc Giao-chỉ.

Thiều Hoa nói:

– Nếu vậy thì tốt quá. Tôi muốn nhờ đại ca một việc, không biết đại ca có dám làm không?

Nghiêm Sơn bị khích, máu nóng nổi dậy, nói:

– Trên đời này chỉ có hoàng đế Đại Hán là tôi nhường bước thôi. Còn tôi há sợ gì ai? Cô nương sai bảo gì tôi xin làm hết sức mình.

Thiều Hoa nói:

– Đại ca biết tiểu sư đệ Đào Kỳ của tôi chứ?

– Có, y thực là dễ thương, tôi muốn hỏi cô nương, y đâu rồi?

– Y bị Phong-châu song quái bắt mấy hôm rồi. Song-quái theo bén gót bọn tôi, không hiểu để làm gì?

Nghiêm Sơn nói:

– Muốn có tin tức tiểu sư đệ của cô nương cũng không khó. Tôi sẽ phát lệnh bài đi tất cả các huyện lệnh, huyện uý, Lạc-hhầu, Lạc-tướng trong vùng nhờ họ cho biết hành tung của Song-quái thì tìm ra ngay. Theo như tôi nghĩ, thì Song-quái hiện ở Đào, Đinh trang để chiêu tập dân chúng. Họ mới được phong làm Lạc-hầu thay thế sư phụ và sư thúc cô nương. Song-quái bắt tiểu sư đệ của cô nương mục đích dẫn dụ cho sư phụ, sư mẫu cô nương xuất hiện, để chúng bắt đấy thôi.

Vừa nói, chàng vừa mân mê cành hoa đào Đào Kỳ lấy trên mái tóc Thiều Hoa tặng cho. Thiều Hoa đỏ mặt, cúi đầu, ra roi cho ngựa chạy trở về.

Nàng xuống ngựa nói với Nghiêm Sơn:

– Đa tạ Đại-tướng quân tặng ngựa. Sẽ có ngày báo đáp.

Hai đoàn người chia tay nhau. Phạm Bách dẫn đệ tử đến Cao gia trang.

Cao gia trang nằm dài từ bờ sông đến triền núi, dài gần 20 dậm. Bên ngoài cổng có gia đinh đứng gác.

Phạm Bách đến trước gia đinh nói:

– Phiền đại huynh báo với trang chủ, có Phạm Bách cầu kiến.

Gia đinh dùng ngựa phi vào trang. Lát sau, có tiếng vó ngựa chạy trở ra. Trên lưng ngựa, một trung niên nam tử, thân thể cực kỳ hùng vĩ, đi tới.

Người đó xuống ngựa, chắp tay thành quyền chào Phạm Bách:

– Vị nào là Phạm lạc tướng? Tại hạ là Cao Cảnh Sơn đây.

Phạm Bách chắp tay vái:

– Phạm Bách ở Dương-xá và đệ tử Đào trang ở Cửu– chân xin bái kiến Cao Cảnh hầu.

– Cách đây hơn tháng, chúng tôi nghe Đào, Đinh hai trang bị nạn, đang buồn không biết tình hình ra sao, may gặp Lạc-tướng đây, thì chắc biết được tin tức Cửu-chân song kiệt. Nào, mời quý vị vào tệ trang.

Đoàn người đi một lát tới đại sảnh đường. Đại sảnh đường là một gian nhà lớn, có thể chứa được vài ngàn người. Bên trong trần thiết cực kỳ nghiêm trang: Giữa sảnh một bàn thờ, trên có tượng Cao Nỗ, Cao Tứ cầm cung uy nghiêm. Hai bên có hai tấm da hổ đã lột ra, nhồi vải trong như hổ còn sống. Trang chủ sai lấy nước, hoa quả mời khách. Những chén nhà họ Cao toàn bằng sành màu gan gà rất lớn.

Trang chủ mời khách:

– Trang chúng tôi uống nước muồng, chứ không uống trà. Hạt muồng phơi khô, rang cháy đi, nấu lẫn với vối tươi, vừa thơm, vừa dễ ngủ.

Phạm Bách giới thiệu đệ tử Thiều Hoa, Trịnh Quang với trang chủ, rồi kể hết mọi sự việc Đào, Đinh trang. Ông tỏ ý muốn nhờ Cao trang chủ cho đệ tử Đào gia ở nhờ, trong khi ông cùng Thiều Hoa, Trịnh Quang đi tìm Đào Thế Kiệt và Đinh Đại.

Cao Cảnh Sơn buồn rầu nói:

– Việc của Đào, Đinh hai nhà cũng là việc của chúng tôi, xin quý vị cứ coi đây như Đào gia trang. Có điều, sau Đào, Đinh, không biết bao giờ Thái-thú tính đến Cao trang đây?

Phạm Bách nói:

– Đây thuộc Giao-chỉ chứ không thuộc Cữu-chân. Thái-thú Giao-chỉ là Tích Quang. Tôi thấy Tích Quang bị Hán đế nghi ngờ, y hiện lo giữ thân còn chưa xong, nên chắc không rảnh thì giờ để hại các trang, các động. Lợi dụng cơ hội này, võ lâm đồng đạo Giao-chỉ nên tích cực thống nhất hành động, nhất tề nổi lên. Trước đánh chiếm Giao-chỉ làm căn bản. Giao-chỉ đã thất thủ, thì Cửu-chân, Nhật nam bị cô lập, chỉ hô một tiếng, dân chúng nổi dậy là thành công. Được Giao-chỉ, Cửu-chân, Nhật Nam, chúng ta tiến lên miền Bắc đánh Quế-lâm, Tượng-quận và Nam Hải, lập lại truyền thống Lĩnh Nam nhà ta cũng không khó.

Cao Cảnh Sơn nói:

– Khó một điều là hai tên thái thú Tích Quang, Nhâm Diên giả nhân, giả nghĩa, nêu cao ngọn cờ Hán-Việt bình đẳng, đem lễ nghĩa Khổng, Mạnh dạy dân. Dân mình gần như bị lôi cuốn vào hào quang đó, quên mất mình là giống giòng Tiên Rồng mất rồi.

Ngừng một lát, ông nói tiếp:

– Trước mắt chúng ta là làm sao tìm được cuốn phả vẽ cách chế nỏ thần của tổ tiên tôi ngày xưa. Chế được nỏ thần, chúng ta cho người đi các nơi thuyết phục hào kiệt, chỉ một trận nổi lên thì 65 thành trì, sẽ trở về Âu-lạc ta.

Phạm Bách nói:

– Giữa Cao trang chủ với chúng tôi thì cùng một đường đi, dựng lại Âu-lạc. Nhưng sợ cái nạn chưa có da cọp, đã tranh dành bán da rồi mới khó. Phái Cửu-chân, Long-biên, Hoa-lư muốn lập lại Âu-lạc. Nhưng phái Tản-viên, Sài-sơn lại muốn lập lại Văn-lang. Ngoài ra còn phái Quế-lâm muốn lập lại giòng dõi Triệu Đà.

Cao Cảnh Sơn dành riêng cho đám đệ tử Đào gia một khu trang trại riêng biệt rất rộng với đầy đủ nhà cửa, giường chiếu, đồ dùng, lương thực, lừa ngựa, xe cộ. Trịnh Quang hiện là người lớn nhất, thay quyền sư phụ cai quản các sư huynh, sư đệ. Mấy ngày sau, tất cả đám sư huynh đệ ở nhờ nhà Phạm Bách đã lục tục đến. Đệ tử Đào gia vốn sống thân mật với nhau đã quen, nên dù thay đổi chỗ ở, họ cũng không cảm thấy cô đơn. Hàng ngày Trịnh Quang luyện võ cho họ. Thiều Hoa thì chán nản trong lòng, không thiết ra ngoài, nàng nằm ì ở trong phòng.

Một đêm tối trời, nàng chập chờn ngủ, thì có tiếng gõ nhè nhẹ ba tiếng. Nàng sẽ ngồi dậy, mở cửa, thấy có bóng đen chạy lên sườn đồi. Là người học võ, nàng biết người này muốn nói gì với nàng đây, nên nàng đuổi bước đuổi theo. Tới đỉnh đồi, bóng đen ngừng lại:

– Hoàng cô nương, tôi tới trễ, cô nương có mong lắm không?

Thì ra Nghiêm Sơn. Nàng hồi hộp hỏi:

– Có tin của tiểu sư đệ không?

Đáp:

– Có thì có rồi đây. Đêm nay chúng ta đi cứu y.

Thiều Hoa mừng quýnh lên:

– Đi, chúng ta đi ngay bây giờ. Tiểu sư đệ bị giam ở đâu?

Nghiêm Sơn nói:

– Song-quái giam nó ở hang Địch-lộng, cách đây không xa .

Ghi chú của thuật giả:

Hang Địch-lộng: Từ Phủ-lý đi về hía Nam 80 km tới Kẽm-trống, băng ngang cầu là hang Địch-lộng. Hang ở trên cao, phải trèo 80 bậc mới tới. Ngoài hang là một ngôi chùa. Đường hang đi thông qua quả núi dài 611 m. Trong hang có nhiều thơ, phú, sấm ký của danh nhân các thời. Hồi 1945, thuật giả được sư phụ dắt lên chùa lễ Phật. Trị sự trưởng là một sư bà. Thuật giả được sư bà thương mến, dắt đi viếng chùa, viếng hang, giảng cho không biết bao nhiêu là những bài thơ, phú, kệ, sấm ký ở trong hang. Lâu ngày qua, thuật giả không còn nhớ được pháp danh của vị sư bà khả kính ấy nữa. Chả biết trải qua bao đổi thay, những thơ, phú, kệ, sấm ký có còn không?

Đi một lát tới ven rừng, Nghiêm Sơn chỉ hai con ngựa cột đó:

– Chúng ta phải lên ngựa đi mới được, từ đây lên Địch-lộng hơi xa, nhưng chúng ta dùng ngựa thì cũng không lâu. Tôi đến đó dùng quyền bắt Song-quái giao tiểu sư đệ đưa về Luy-lâu. Nhưng cần nhất cô nương nên cải nam trang để cùng đi với tôi thì tiện hơn.

Thiều Hoa hỏi:

– Trường hợp Song-quái không chịu giao tiểu sư đệ cho đại ca thì sao?

Nghiêm Sơn cười:

– Cô nương đừng lo. Song-quái được làm Lạc-hầu hai trang Đào, Đinh, chúng đâu dám trái ý tôi? Chúng còn muốn làm huyện úy nữa, nên tôi nói gì Vũ Hỹ cũng phải tuân theo. Nếu y trái lệnh, thì tôi chiếu quân pháp chặt đầu y ngay.

Thiều Hoa hỏi:

– Tôi sợ Song-quái dấu tiểu sư đệ đi một chỗ, rồi chối rằng chúng không bắt nó, thì mới khổ?

Nghiêm Sơn cười:

– Cô nương yên tâm. Trong sào huyệt của Song– quái, tôi cài rất nhiều người nên nhất cử nhất động của chúng, tôi đều biết. Song-quái giam tiểu sư đệ trong một động nhỏ, cho ăn uống tử tế, y không khổ sở đâu. Dường như tiểu sư đệ của cô nương biết sử dụng Phục ngưu thần chưởng, do vậy Song-quái dỗ y khai ra ai đã dạy. Y nhất định không khai. Cô nương, cô là sư tỷ, chắc cô biết chưởng đó.

Thiều Hoa lắc đầu:

– Tôi chỉ nghe qua mà thôi. Chưởng đó không phải của Cửu-chân chúng tôi, mà của phái Tản-viên. Song– quái là đệ tử của Tản-viên, nên muốn tra xét xem tại sao tiểu sư đệ lại biết?

Nghiêm Sơn nói:

– Thần chưởng Phục ngưu lợi hại vô cùng, không biết tiểu sư đệ học được mấy chiêu? Theo tôi biết, chưởng này có 36 chiêu, khi sử dụng biến ra Âm, Dương, thì 36 thành 72. Tuy có 72 chiêu, nhưng mỗi chiêu bao hàm quyền, chưởng, chỉ, trảo, dực, thành ra 360 chiêu. Sư phụ của Song-quái là Nguyễn Thành Công chỉ biết có bảy chiêu. Ông dạy cho Song-quái cả bảy nhưng không dạy biến hoá, nên chúng muốn khảo để tìm đọc cho hết.

Thiều Hoa nói:

– Hôm đó, trong đền thờ Cao Nỗ, tôi thấy tiểu sư đệ sử dụng một chiêu, có đến bốn biến hoá. Tôi không biết võ công gì, sau thấy Song-quái kêu là Phục ngưu thần chưởng thì biết vậy thôi.

Nghiêm Sơn nói:

– Một chiêu biến thành hai, rồi hai biến thành năm lần nữa hoá ra mười chiêu. Dường như hôm đó tiểu sư đệ sử dụng là lần đầu, cho nên không thạo lắm, tuy cũng đánh trúng Vũ Hỷ, nhưng bị nó đá văng ra xa.

Thiều Hoa ủa một tiếng:

– Thì ra hôm đó đại ca cũng nấp ở ngoài nhìn thấy à?

– Đúng, tôi theo Song-quái để biết rõ hành tung của họ. Cô cảm thông cho, vì ở địa vị tôi, cần phải biết rõ y trước khi cho làm huyện úy. Tôi thấy một mặt chúng mơ tưởng quan quyền, một mặt chúng tổ chức rất nhiều sào huyệt cơ sở, nên phải theo để biết. Thì ra Song-quái muốn làm bá chủ võ lâm. Y cũng như sư phụ y và người của phái Tản-viên đua nhau tìm bộ Văn Lang võ kinh, nhưng cho đến nay tất cả chưa ai đạt được. Nếu một trong những người họ đạt được, họ sẽ nắm hết các võ phái thuộc Văn-lang, tức là nắm được phân nửa đất Lĩnh Nam này vậy. Một đàng họ dựa thế của chúng tôi để biết các võ phái thuộc Âu-lạc. Một đàng chúng lo tìm kiếm võ kinh, để làm bá chủ.

Thiều Hoa chua chát:

– Vì vậy, Đào gia chúng tôi mới tan nát như ngày nay.

Nghiêm Sơn thở dài:

– Hoàng cô nương, tôi cần phải nói thực với cô nương một điều. Tôi là người Hán sang đây cai trị người Việt. Người Hán cũng có kẻ ác, người thiện. Như Nhâm Diêm, Tích Quang giả nhân giả nghĩa, làm cho người Việt tin chúng, rồi chúng tỉa dần những người lương thiện. Còn tôi, dầu sao cũng xuất thân nghĩa hiệp, không ham danh lợi. Chỉ vì gặp Kiến Vũ hoàng đế trong cơn nguy khốn, tôi ra tay cứu giúp. Kiến Vũ hoàng đế đối với tôi bằng tình bạn, cử tôi sang kinh lược đất Việt. Tôi mới tới, nghe báo cáo của phủ Tế-tác rằng đất Cửu-chân có chín Lạc-hầu, thì năm là người lương thiện, hai là người chỉ thích văn học, nhàn nhã. Còn hai nhà Đào, Đinh là đầu trộm, đuôi cướp. Tôi tin thực, mang quân vào trợ chiến. Giữa lúc giao chiến thì tôi gặp cô nương và tiểu sư đệ. Trong đêm đánh cảng Bắc, tôi đã cảm thấy mình lầm lẫn. Đào hầu có một người con trai nhỏ tuổi như tiểu sư đệ, văn võ tinh thâm; một nữ đệ tử ôn nhu văn nhã như cô, thì làm sao có thể là trộm cướp được? Tới khi tôi đối chưởng với sư thúc cô, tôi thấy võ công ông rất cao. Tôi đối thoại với sư mẫu cô nương, thì tôi biết mình bị lừa hoàn toàn. Tôi hối hận bao nhiêu, thì giận thái thú Nhâm Diêm bất nhiêu. Bây giờ thì chỉ có cách, tôi tự trở lại với vai trò nghĩa hiệp, trừ Nhâm Diêm, đưa người khác lên thay. Còn Phong-châu song quái, tôi sẽ tìm một chỗ khác cho họ cai trị. Tôi sẽ cùng cô nương đi tìm Đào, Đinh tiên sinh tạ lỗi, rồi mời người trở về trang ấp như cũ… Hà, một đời Nghiêm Sơn nghĩa hiệp, mà nay đi trợ ác đánh người đồng đạo, thì còn gì là “nghĩa” nữa.

Thiều Hoa lắc đầu:

– Liệu Kiến Vũ hoàng đế có chịu như vậy không?

Nghiêm Sơn thở dài:

– Với võ công của tôi, trong đêm tối, tôi giết thái thú Nhâm Diêm bí mật, thì ai mà trách được? Ví dầu Kiến Vũ hoàng đế có biết, người cũng phải chịu.

Hai người đang trò chuyện, có tiếng quát:

– Ai?

Nghiêm Sơn đáp:

– Ta đây!

Trong bóng tối, có sáu người nữa bước ra chấp tay hành lễ:

– Chúng tôi đợi Quốc-công đã lâu.

Nghiêm Sơn chỉ sáu người giới thiệu:

– Hoàng cô nương, tôi giới thiệu với cô sáu vị đây nổi danh là Hợp-phố lục hiệp. Các vị cùng sang Lĩnh-Nam với tôi. Sáu vị đều làm việc tại phủ Lĩnh Nam, nên cùng đi chung.

ThiềuHoa cúi đầu chào:

– Thì ra sáu vị đã nổi tiếng về nhân nghĩa ở đất Hiệp-phố. Các vị cùng là người Lĩnh Nam như tôi cả.

Hiệp-phố nhất hiệp Lưu Nhất Phương nói:

– Chúng tôi cũng bị mắc mưu Nhâm Diêm như Quốc-công. Mong cô nương không trách phạt là may.

Nghiêm Sơn phất tay:

– Chúng ta đi.

Tới một sườn núi cao vời vợi, Nghiêm Sơn nhìn lên rồi phất tay, lập tức một người rút trong bọc ra ba mũi tên, châm lửa bắn lên trời.

Sau mấy khắc, trên sườn núi cũng bắn xuống năm mũi tên lửa. Tiếp theo Phong-châu song quái chạy xuống như bay.

Vũ Hỷ chắp tay:

– Tiểu nhân là Vũ Hỷ xin tham kiến Quốc-công.

Nghiêm Sơn nói:

– Tôi có một việc muốn thương lượng với Vũ lạc hầu.

Vũ Hỷ khúm núm mời:

– Xin mời Quốc-công cùng các vị thượng sơn.

Đoàn người theo các bậc đá leo lên núi. Đúng 80 bậc thì tới cửa một cái hang thiên nhiên. Cửa hang bằng gỗ mở rộng, bên trong đèn đuốc sáng choang, trang trí như một đại sảnh lớn.

Song-quái mời Nghiêm Sơn ngồi rồi nói:

– Chúng tôi tiếp được tin Quốc-công cùng các huynh đệ trong phủ Tế-tác quang lâm, nên đã chuẩn bị tiệc sẵn để kính mời, gọi là lấy thảo.

Vũ Hỷ rót rượu vào chén từng người một:

– Đây là rượu chuối, chuối vùng này có tiếng thơm ngon. Hàng năm chúng tôi để cho chuối chín cây, sau đó mới ướp men làm rượu. Men, chuối ướp trong một thùng bằng gỗ rồi bỏ xuống đáy khe suối. Sau sáu tháng hấp thụ thuỷ khí thiên nhiên, lấy lên uống ngon lắm.

Tiệc đã bày ra, Vũ Hỷ mời Nghiêm Sơn vào ngồi chủ toạ, còn thứ đến Thiều Hoa và những người tuỳ tùng. Còn vợ chồng y thì ngồi vào địa vị chủ nhân để bồi tiếp.

Vũ Hỷ rót rượu cho Nghiêm Sơn:

– Đã có rượu chuối, thì phải có đồ nhắm đặc biệt. Vùng núi này nổi tiếng nhiều ong mật. Trứng ong đẻ vào từng lỗ của tổ, khi lớn lên gần đến ngày mọc cánh thì gỡ ra, những con nhộng này vừa béo, vừa thơm, ăn vào có thể chống được nọc độc của sâu bọ, rắn rết. Chỉ cần bỏ nhộng vào chảo với mấy muỗng mỡ, rang lên cho vàng là ngon tuyệt.

Nhộng ong quả nhiên thơm và ngon. Thiều Hoa không biết uống rượu, nàng phải nhân Song-quái nhìn đi, đổi chén với Nghiêm Sơn. Rượu được vài tuần, Vũ Hỷ hỏi:

– Thưa Quốc-công, các vị huynh đệ có thể tin được không?

Nghiêm Sơn gật đầu:

– Họ đều là chân tay của tôi cả. Chúng tôi coi nhau như huynh đệ.

Vũ Hỷ hân hoan nói:

– Theo tiểu nhân biết, thì đất Lĩnh Nam này có hai mối lo. Một là các di tộc của đám tướng sĩ bại trận thời Aâu-lạc, đa số tập trung ở vùng Cửu-chân, Lục-hải, Việt-thường. Trong đó đáng lo nhất là “Cửu-chân cửu gia” tức chín trang. Nhờ tài thao lược của Quốc-công thì năm gia trang đã quy phục với Hán, còn hai gia trang tiểu nhân đã dùng kế khích bên này, bên kia, để năm nhà thù hằn hai nhà còn lại. Cuối cùng hai trang Đào, Đinh quan trọng hơn cả, thì một trận chúng ta đã quét sạch. Vùng Long-biên thì phái Long-biên thế lực cực mạnh. Chưởng môn Nguyễn Trát tuy có danh, mà không có thực tài. Lúc nào y cũng sợ sư bá, sư thúc trở lại kiếm chuyện, dành ngôi. Phái Sài-sơn có tám vị Thái-bảo, chỉ có đức mà không có lực thì cũng chẳng làm gì. Phái Tản-viên của chúng tôi thì Đặng Thi Sách chỉ là con đom đóm bên cạnh mặt trời của thái sư thúc Lục trúc tiên sinh Lê Đạo Sinh. Hoa Lư người đông, thế mạnh, mới thực là điều đáng sợ.

Nghiêm Sơn hỏi:

– Theo ý Vũ tiên sinh thì nên làm gì bây giờ?

– Võ công vùng Giao-chỉ, Cửu-chân, Nhật Nam vốn có hai giòng: Giòng Văn-lang và giòng Âu-lạc. Thục Phán đánh vua Hùng lập ra Âu-lạc. Bây giờ các phái Sài-sơn, Tản-viên thuộc Văn-lang. Phái Long-biên, Cửu– chân, Hoa-lư thuộc Âu-lạc. Cả hai giòng đều muốn phản Hán phục Việt. Chúng ta không cần làm gì hết, chỉ cần đứng giữa khiêu khích cả hai bên chém giết nhau. Chúng ta làm ngư ông thủ lợi.

Nghiêm Sơn gật đầu:

– Nhân huynh thực là người đởm lược, mưu kế viễn lự. Dường như nhân huynh có bắt được con út Đào Thế Kiệt phải không? Ta muốn giải nó về Luy-lâu để dụ cho cha mẹ nó đến cứu, và bắt một thể.

Vũ Hỷ là người thông minh tuyệt đỉnh. Trong trận chiến ở cảng Bắc, y thấy Nghiêm Sơn khách sáo với vợ chồng Đào Thế Kiệt, y không rõ nguyên do. Suốt mấy tháng nay, y cố tìm hiểu mà vẫn không ra manh mối. Sau trận cảng Bắc, y đi một đường, Nghiêm Sơn đi một đường nên y không biết vụ chàng gặp Thiều Hoa, và mối tình đã chớm nở. Với đầu óc đa nghi, y cho rằng có thể vợ chồng Đào Thế Kiệt cùng làm việc cho phủ Tế-tác. Nhưng nếu đã là người của phủ Tế-tác, sao thái thú Cửu-chân còn tấn công Đào trang? Vũ Hỷ là người cơ mưu xảo trá, nhưng nghĩ đến nát óc cũng không hiểu nội vụ:

– Xin đại nhân chờ một chút, tôi sẽ giải nó lên.

Y quay lại người hầu cận:

– Giải thằng nhỏ láu cá lên.

Một lát, có tiếng Đào Kỳ chửi bới:

– Chúng mày uổng danh là đệ tử núi Tản-viên, mà tư cách hèn hạ. Ta nghe người chưởng môn đương thời là Đặng Thi Sách, anh hùng hào sảng, mỗi hành vi đều quang minh lỗi lạc. Thế mà trong môn phái lại nảy ra hai đứa chúng bay vô lại đến thế, ỷ lớn hiếp bé, ỷ chúng hiếp cô. Chúng mày còn mặt mũi nào nhìn đời nữa? Chúng bay muốn học võ của tổ tiên chúng bay thì về Mê-linh mà hỏi Đặng Thi Sách, tại sao lại giam ta để tra vấn?

Tới đại sảnh, nó thấy Thiều Hoa mặc giả trai ngồi đó, nó làm bộ không biết, nhưng khi nhìn thấy Nghiêm Sơn nó cười hì hì:

– Nghiêm đại ca, đại ca là Quế-lâm thần kiếm, nổi danh hiệp nghĩa đất Trung-nguyên. Tiểu đệ nghe nói, đại ca vì bảo vệ thái tử Lưu Tú mà đi ba ngày, ba đêm từ Trường-sa đến Côn-dương, đánh 20 trận với võ sĩ Vương Mãng, bị thương 15 lần. Vì vậy Kiến Vũ thiên tử mới kết huynh đệ với đại ca. Tại sao đại ca lại đi ngồi chung với hai con quái này?

Song-quái bị Đào Kỳ chửi bới, lột mặt mạ, xấu hổ quá, y muốn lên tiếng quát tháo, nhưng thấy Đào Kỳ gọi Nghiêm Sơn là đại ca, y càng hoang mang hơn, không biết liên hệ giữa hai người ra sao.

Y vội đứng dậy cởi trói cho Đào Kỳ. Đào Kỳ nhìn Thiều Hoa, hỏi Nghiêm Sơn:

– Đại ca, không biết mấy tháng nay sư tỷ em ở đâu, đại ca có tin tức gì không? Em nhớ chị ấy quá.

Nghiêm Sơn bảo Kỳ:

– Giữa em và Vũ đại huynh đây có chỗ hiểu lầm đấy thôi. Ta đến đón em về Luy-lâu chơi. Thôi chúng ta lên đường. Còn Hoàng sư tỷ của em, ta cũng không biết ở đâu nữa.

Đào Kỳ bảo Song-quái:

– Đại trượng phu phải quang minh lỗi lạc. Ngươi bắt ta để tìm võ công của môn phái ngươi. Nhưng mấy tháng nay ngươi đã tìm được gì chưa? Tuy ngươi giam ta, nhưng vẫn cho ta ăn uống đầy đủ. Vậy ta cũng có chỗ trả ơn ngươi. Ngươi bắt ta để tra hỏi về Phục ngưu thần chưởng. Ta nói thực: Ta chỉ biết có 18 trong 36 chiêu, cho nên khi giao đấu, chỉ có thể sử dụng từng chiêu một, chứ không thể sử dụng liên miên bất tuyệt từ chiêu này sang chiêu khác. Nguyên tắc võ học Văn-lang là như thế này: Mỗi chiêu gồm ba phần là công, nghinh, thủ; nghĩa là trong chiêu thì có thể tấn công trước, trong cái tấn công phải có phần đỡ đòn đối thủ phản công, và phải có chỗ đề phòng bảo vệ môn hộ cho chắc. Ngươi hiểu chưa?

Phương Anh giật bắn người lên. Khi thị học võ, sư phụ chỉ dạy từng chiêu, mà không giảng khẩu quyết nên y thị sử dụng không đủ uy mãnh, đôi khi còn sơ hở để đối phương phản công. Nay nghe Đào Kỳ giảng, y thị như người mù sáng mắt ra.

Đào Kỳ nói tiếp:

– Ba đoạn công, nghinh, thủ, sử dụng cái nào trước cũng được. Nếu bị người ta ra chiêu trước thì nghinh đi trước và công, thủ đi sau. Còn mình ra tay trước thì công đi trước, còn nghinh, thủ đi sau. Làm sao để từ chiêu này đến chiêu khác liên miên bất tuyệt, đừng để gián đoạn. Muốn đạt tới mức đó phải biết cả 36 chiêu, nhưng ta chỉ biết có 18 chiêu nên mới bị ngươi bắt. Hiểu chưa?

Nó quay lại nói với Nghiêm Sơn:

– Nghiêm đại ca, chúng ta đi thôi.

Nghiêm Sơn đứng dậy dặn Song-quái:

– Bản chức chờ quý vị ở Luy-lâu. Xin quý vị đến càng sớm càng tốt. Chúng ta có nhiều việc để làm.

Đoàn người xuống dưới núi, lên ngựa ra đi. Đào Kỳ không có ngựa, nó nhảy đến vèo một cái lên ngồi phía trước Thiều Hoa:

– Sư tỷ, em nhớ sư tỷ đến chết được.

Chính Thiều Hoa cũng định nói câu đó. Nàng ngẫm ra rằng thường ngày tình yêu cha con, thầy trò, bạn hữu tiết ra đều đặn không có gì để đo được mạnh hay yếu. Chỉ khi người ta xa nhau, mới thấy nhớ nhung, thương tiếc mạnh hơn lên. Dẫu nàng với Đào Kỳ, tình là sư tỷ, sư đệ, nhưng nàng thấy chú bé tiểu sư đệ nàng với nàng tình thâm như biển. Nàng vuốt tóc Kỳ:

– Song-quái bắt em về, chúng có hành hạ em không?

Kỳ cười nắc nẻ:

– Không những không hành hạ mà còn chiều chuộng dỗ dành em, để em khai ra những chiêu thức của Phục ngưu thần quyền.

– Thế em có khai không?

Đào Kỳ cười ha hả:

– Chị thử đoán xem.

Thiều Hoa cốc khẻ vào đầu Kỳ:

– Gì mà chị không hiểu, hồi nãy em chửi Song– quái, thì chị biết em không khai rồi. Thế mà cũng hỏi. Nhưng có điều chị không hiểu là em học Phục ngưu thần chưởng ở đâu? Ai dạy em? Dạy trong trường hợp nào? Hồi nãy chị thấy em giảng yếu quyết võ công cho Song-quái. Yếu quyết đó không phải của nhà ta, vậy thì ở đâu có mà em giảng?

Đào Kỳ cười:

– Song-quái tin rằng em biết Phục ngưu thần chưởng nên em bịa đại ra mà nói cho chúng lầm chơi. Sự thực những bí quyết đó, em nghe bố với cậu nói chuyện về nguyên tắc võ công Văn-lang. Phục ngưu thần chưởng xuất từ Văn-lang, nên em đem ra nói, chúng mới tin là thực.

Đào Kỳ ngưng một lúc tiếp:

– Em có biết Phục ngưu thần chưởng đâu? Em loè Song-quái đấy chứ. Cách đây mấy tháng nhân bố với cậu em bàn luận võ công đều nói rằng Phục ngưu thần chưởng là võ công vô thượng của Văn-lang. Hồi trước An Dương vương thắng được Văn-lang là nhờ có nỏ thần, chứ nếu đấu võ thì thua xa. Chưởng Phục-ngưu hồi đầu do phò mã Sơn Tinh chế ra gồm có 36 chiêu dương cương, uy mãnh cực kỳ mạnh. Sau Vạn-tín hầu đấu với Sơn Tinh, thấy rằng dùng cương đánh với Phục ngưu thần chưởng thì chỉ có thua. Ngài mới nhân mỗi chiêu của dương cương, chế ra một chiêu âm nhu khắc chế, cộng thành 72 chiêu. Tuy gọi là chiêu, song mỗi chiêu rất dài, bao gồm biến hoá quyền, chưởng, chỉ, cước, trảo, dực. Nếu học được 36 chiêu dương hoặc âm thì khi sử dụng chiêu nọ nối chiêu kia, liên miên bất tuyệt. Nếu học được cả dương cương lẫn âm nhu thì khi cương, khi nhu, địch thủ không biết đâu mà lường. Nhưng đến nay phái Tản-viên bị thất truyền hết. Chưởng môn là Thi Sách cũng chỉ biết có bảy chiêu dương cương. Thái sư thúc của ông là Lục-trúc tiên sinh Lê Đạo Sinh thì biết được 12 chiêu. Song-quái cũng học với sư phụ y được bảy chiêu.

Thiều Hoa ngắt lời:

– Thế chiêu em đánh với Vũ Hỷ tại đền thờ của Cao Nỗ chả là Phục ngưu thần chưởng là gì?

Đào Kỳ cười hô hố:

– Chị cũng như Song-quái, thấy chiêu võ quái dị, cho rằng đó là Phục ngưu thần chưởng, chị lầm rồi! Khi em nghe bố với cậu bàn về Phục ngưu thần chưởng, mới nhân đó, kết hợp ba chưởng, chỉ, trảo chế ra một chiêu võ chơi. Không ngờ lúc bí đem sử dụng, Vũ Hỷ tưởng là Phục ngưu thần chưởng.

Khi đến gần Cao gia trang, Nghiêm Sơn nói:

– Thôi Hoàng cô nương, tiểu sư đệ, chúng ta từ biệt ở đây thôi. Cao trang là nơi chống người Hán, tôi không vào được, nếu tôi vào sẽ bất lợi cho cô nương và tiểu sư đệ lắm. Không biết cô nương và tiểu sư đệ có tin tôi không?

Đào Kỳ nói:

– Tin, tôi tin đại ca.

– Cám ơn tiểu sư đệ, nhưng tại sao em tin tôi? Khi tôi là quan người Hán, đối đầu với người Lĩnh Nam, hơn nữa cùng tham dự vào trận đánh phá Đào gia trang.

Đào Kỳ cười:

– Có gì mà không hiểu. Việc đánh phá Đào gia trang là do Nhâm Diêm chủ xướng. Bất quá đại ca và Hợp-phố lục hiệp chỉ đến trợ chiến mà thôi. Từ lúc đại ca gặp chúng tôi thì đại ca đã đổi khác hẳn. Hôm đó có thể bắt chúng tôi mà đại ca để nguyên. Tôi nghe Song-quái nói đại ca có thể bắt gia đình tôi mà không bắt. Tôi biết lý do tại sao đại ca lại hành động như vậy rồi mà tôi không dám nói.

Nghiêm Sơn hỏi:

– Tiểu sư đệ, em thử nói xem có đúng không?

– Nói thì dễ thôi! Nhưng sư tỷ không được đánh người ta.

Thiều Hoa sợ Đào Kỳ nói toẹt tâm sự mình ra thì xấu hổ chết. Nàng dơ tay cốc vào đầu nó một cái, nàng nói để trấn áp mình:

– Không được nói bậy!

Đào Kỳ gật đầu:

– Thì em có nói gì bậy đâu? Em nói đúng mà thôi. Không biết tại sao, khi gặp đại ca trong trận đánh cảng Bắc, em đã đoán ra đại ca không giống như những bọn Hán quan chỉ biết hối lộ, giết người tàn ác. Em hỏi thực đại ca, giả như đại ca khám phá ra âm mưu thâm độc của Nhâm Diêm, liệu đại ca có trợ chiến cho y không? Trường hợp đó, đại ca sẽ hành động thế nào?

Nghiêm Sơn trầm ngâm một lúc rồi trả lởi:

– Ta sẽ mời sư phụ, sư thúc của tiểu sư đệ đến hội kiến. Sau đó ta đích thân đến Đào, Đinh trang chơi. Với con mắt kinh nghiệm của ta, ta biết rằng hai vị không phải là quân trộm cướp. Ta sẽ yêu cầu Nhâm Diêm bãi binh. Trường hợp y không bãi binh, ta đem binh của ta kiềm chế y, chặt đầu y, sau đó dâng biểu về triều. Ta là Bình-nam đại tướng quân, có toàn quyền khắp vùng Lĩnh-nam.

Ngừng một lúc chàng tiếp:

– Từ ngày sang Lĩnh-nam đến giờ, ta đã xử tử không biết bao nhiêu bọn quan liêu người Hán tham ô, hại dân. Ta tuy là Lĩnh-nam công, nhưng lại cầm thanh gươm nghĩa hiệp trong tay, chứ không phải là một thứ quan quyền ác độc như tiểu sư đệ thường thấy.

Đào Kỳ hỏi:

– Bây giờ thì đại ca có truy nã bố, mẹ em nữa không?

– Dĩ nhiên là không, mà phải đi tìm người để tạ lỗi nữa.

Hai người đối đáp mà Thiều Hoa cảm thấy bàng hoàng như đi trên mây.

Đào Kỳ tiếp:

– Em biết đại ca thực lòng với nhà em, vì cả những chuyện quốc gia đại sự, đại ca cũng bàn trước mặt chúng em. Đại ca coi Song-quái như tôi tớ, còn em như ruột thịt, không lẽ đến như vậy mà em không tin đại ca nữa sao? Bây giờ thế này: Sư tỷ về Cao gia trang, còn em thì đi với Nghiêm đại ca để tìm bố mẹ.

Thiều Hoa thấy Kỳ sắp xếp sự việc đâu ra đấy, đồng ý ngay:

– Được! Thì em đi với Nghiêm đại ca. Khi gặp sư phụ, sư mẫu rồi thì em nói với người, và thông tin cho chị biết liền. Chị ở Cao gia trang, trông tin em từng ngày từng giờ đấy.

Đào Kỳ cười hì hì:

– Chị thực là vô tình, hay chị nói có một nửa câu? Em sợ chị trông em từng ngày từng giờ. Còn chị trông tin người khác từng khắc từng giây. Em nhớ Kinh thi có bài hát nói về người con gái và người con trai xa nhau, mỗi ngày không gặp nhau, thấy dài bằng ba mùa thu:

Nhất nhật bất kiến như tam thu hề.

Đào Kỳ xoáy thẳng vào tâm tư Thiều Hoa, làm nàng đỏ mặt, không nói được câu nào. Nàng tát sẽ lên má nó hai cái:

– Bẻm mép!

Nói rồi nàng ôm đầu nó vào ngực, xoa đầu nó, nhảy xuống ngựa. Thiều Hoa vỗ mông ngựa một cái, con ngựa phi nước đại. Nghiêm Sơn liếc ngang, nhìn nàng, thở dài, rồi phi ngựa theo Đào Kỳ:

– Hoàng cô nương, hẹn ngày tái ngộ.

Chương 5: Tiếc Thay Nước Đục Bụi Trong

Thiều Hoa về đến trang trại thì mặt trời đã lên cao. Trời tháng chín bắt đầu lạnh. Hơi thu theo gió heo may len lỏi trong không gian, lá úa màu rơi lả tả. Nàng ngước mặt nhìn những đám mây trắng trôi lang thang trên sườn núi ngả màu đỏ mà lòng se lại:

– Ta mồ côi từ nhỏ. Chú ta thương ta, nhưng thím ta tàn nhẫn, đày đoạ ta chăn trâu khổ sở. Ta mải chơi, để trâu ăn lúa, thím ta đuổi ta đi, còn đánh ta tàn nhẫn. Ta lang thang tứ cố vô thân, thì gặp sư phụ. Người đem ta về nuôi ta, dạy ta, thương yêu ta như con đẻ. Sư phụ ta là người nghiêm khắc, hay trách phạt con cái người. Tiểu sư đệ là con út, thông minh, khôi ngô, hiếu thảo, mà còn bị người mắng là thường. Còn ta thì người thương yêu, lúc nào cũng ngọt ngào với ta. Suốt bảy năm ở với sư phụ, sư mẫu, ta chưa bị quở trách bao giờ. Ta là nữ đệ tử, người tin ta, đi đâu cũng mang theo. Ta nghĩ, nếu cha mẹ ta còn sống thì cũng chỉ thương ta đến thế là cùng. Ta sống hạnh phúc bên cạnh sư phụ, sư mẫu, sư huynh, sư đệ, thì xảy ra biến cố. Không biết nay sư phụ, sư mẫu ở đâu? Mấy tháng nay ta nhớ người, đêm ta thường khóc. So sánh nỗi buồn xa sư phụ, sư mẫu, với nỗi buồn cha mẹ chết, ta thấy cũng giống nhau. Nhưng… sư phụ ta thuộc dòng giống Âu-lạc, thù hằn người Hán. Người lại hay nhắc nhở truyện Mỵ Châu, lấy chồng ngoại tộc, làm mất nước. Trong trận chiến cảng Bắc, ta gặp Nghiêm Sơn, y là người có địa vị cao bậc nhất Lĩnh-nam, nếu y muốn, thì thiếu gì mỹ nữ, hầu xinh. Nhưng y đối với ta bằng cả một mối nhu tình. Ta phải làm sao bây giờ? Ta nghĩ lại mà thấy bất hiếu với sư phụ, sư mẫu. Trong lúc nhà tan, cửa nát, ta cứ nhờ y tìm sư phụ, sư mẫu, đưa người trở về Cửu-chân, rồi ta thú tội với người. Người tha tội thì thôi. Còn người không tha tội, ta đành tìm cái chết để đền đáp mối tình của Nghiêm Sơn.

Nàng trở về phòng nằm nghỉ, lơ đãng nhìn cảnh đẹp trời chiều, nông dân đốt rẫy, khói bay lên bầu trời trắng xanh. Nắng chiếu xuyên qua khói, rọi xuống đất thành màu tím. Nàng riu riu ngủ được một giấc, thì tiếng gõ cửa làm nàng tỉnh dậy. Nàng hỏi:

– Ai đây?

Tiếng nữ đệ tử ngoại đồ Phi Vân nói:

– Sư tỷ! Tất cả đệ tử, tráng đinh họp, mời sư tỷ ra dự.

Thiều Hoa mệt nhoài nói:

– Em nói với nhị sư huynh rằng ta mệt, không dự được.

Phi Vân ra một lúc rồi lại vào:

– Sư tỷ! Nhị sư huynh mời sư tỷ phải ra họp ngay.

Thiều Hoa nghĩ thầm:

– Tại sao sư huynh lại bắt ta phải ra họp? Chắc có tin tức gì về sư phụ, sư mẫu đây.

Nàng theo Phi Vân đến chỗ họp, thì không phải là đại sảnh, mà là ngọn đồi phía sau trang trại. Gần 100 anh em Đào trang ngồi thành vòng tròn, vũ khí bên cạnh. Người nào mặt cũng sát khí đằng đằng. Họ nhìn Thiều Hoa với con mắt thiếu thiện cảm.

Nàng hỏi Phi Vân:

– Có biến cố gì sao?

Phi Vân nhìn nàng với vẻ lạnh lùng đáp:

– Sư tỷ chờ một lát sẽ biết.

Mọi người đều dồn con mắt nhìn nàng, như muốn gây sự.

Thiều Hoa hoảng:

– Cái gì đã xảy ra?

Trịnh Quang đứng lên trịnh trọng nói:

– Các vị sư đệ, sư muội, hôm nay ta mời tất cả quý vị tới đây để giải quyết một vấn đề, đó là vấn đề sống còn của sư môn và chúng ta. Từ hôm xảy ra biến cố đến giờ, không hiểu sư phụ, sư mẫu ở đâu? Các vị sư huynh, sư đệ ra sao? Thứ nữa đến cái chết của sư muội Tường Loan. Hôm đó sư huynh đau mê man, khắp người không cử động được, nên không thể nào tra xét cho ra manh mối. Tuy vậy ta vẫn có mối nghi ngờ rằng trong chúng ta, có kẻ gian tế trà trộn để hại ngầm. Từ hôm qua đến giờ, ta đã tìm ra manh mối, biết được tung tích kẻ thù.

Đám sư huynh, sư đệ nhao nhao lên:

– Xin sư ca nói cho chúng tôi rõ.

Trịnh Quang liếc nhìn Thiều Hoa rồi hỏi:

– Sư muội! Sư muội là người biết hết tất cả. Sư muội có thể cho chúng ta biết được chăng? Sư môn chúng ta nhà tan cửa nát, kẻ chết người bị thương, gia đình ly tán. Chính bản thân ta, giờ này không hiểu vợ con còn sống hay chết? Điều đó không quan trọng lắm. Điều quan trọng nhất là sư môn chúng ta có kẻ gian ẩn náu, bán chúng ta cho giặc Hán.

Thiều Hoa nhìn thẳng vào mặt Trịnh Quang, tự nghĩ:

– Tại sao sư huynh lại cật vấn ta? Không lẽ sư huynh nghi cho ta giết Tường Loan hay sao? Có lý nào lại đa nghi, hại người chết đuối trên cạn được?

Nàng vốn là người thuần hậu, nhu nhã, nên trả lời:

– Có gì mà không hiểu? Sư muội Tường Loan bị kẻ gian ám hại, chứ không phải ngã. Bởi với võ công Tường Loan, tại sao sư muội có thể chết vì ngã ở một triền núi thoai thoải? Hôm đó tôi đã khám thi thể, thấy miệng ứa máu, ngực có vết âm kình khá nặng. Tôi không hiểu đó là võ công của môn phái nào, và ai đã ra tay. Suốt vùng Cửu-chân, không có môn phái nào lại luyện thứ võ âm nhu ấy? Sư phụ và Đinh sư thúc đã bàn rằng: Võ công Văn-lang có một thứ gọi là Phục ngưu thần chưởng, cứ một chiêu dương lại một chiêu âm, độc địa vô cùng. Hiện võ công âm nhu đã thất truyền. Ngay chưởng môn là Đặng Thi Sách cũng không sử dụng được. Không lẽ… không lẽ sư muội Tường Loan bị giết bằng võ công âm độc đó? Tôi thấy kẻ ra tay học chưa đến nơi đến chốn, nên sư muội vẫn có vết thương tím ở ngực. Chứ nếu thật là Phục ngưu thần chưởng thì người không một vết trầy, mà tạng phủ nát ra mà chết ngay.

Mọi người kêu ồ lên:

– Phong-châu song quái.

Thiều Hoa nói:

– Hôm tiểu sư đệ đánh nhau với Song-quái ở Cao miếu, có sử dụng một thứ võ công hết sức quái dị. Chính Song-quái cũng kêu lên là Phục ngưu thần chưởng, rồi bắt tiểu sư đệ đi. Tôi gần tiểu sư đệ từ lâu, chưa từng thấy y sử dụng võ công âm nhu bao giờ. Dù tiểu sư đệ có biết sử dụng chăng nữa, thì quyết không giết Tường Loan. Vậy trong chúng ta có gian tế của phái Tản-viên, đã ra tay giết Tường Loan. Phái Cửu-chân chúng ta không thù, không oán với phái Tản-viên, không lẽ họ lại gây hấn với chúng ta? Giữa chưởng môn phái Tản-viên Đặng Thi Sách với sư phụ là chỗ giao tình thâm trọng, quyết… phái Tản-viên không giết Tường Loan. Sư huynh là người kinh nghiệm nhiều, có cao kiến gì không?

Trịnh Quang cười khẩy:

– Được! Sư muội đã nói như thế thì ta phải tìm cho ra hung thủ. Sư phụ vắng mặt, ta là người lớn nhất ở đây, ta phải tìm cho ra và giết nó trả thù cho Tường Loan.

Thiều Hoa thở dài nói:

– Hôm ở Cao miếu, tôi ngủ trên chiếc võng ngoài sân, nửa đêm thấy một bóng đen chạy ra đường. Tôi theo dõi, thì thấy bóng đen đó vẽ lên tảng đá ven đường mấy dấu hiệu. Ngặt vì đêm tối, tôi không biết đó là dấu hiệu gì. Sáng hôm sau tôi ra xem thì thấy là chữ Vạn, dưới ghi địa danh chúng ta sắp đi qua. Tôi biết gian tế chỉ đường cho đồng bọn theo dõi chúng ta nên tôi xoá đi hết.

Trịnh Quang cười nhạt:

– Sư muội thật là người tinh tế. Những việc như vậy sao sư muội không cho ta biết? Sư phụ vắng mặt, ta là người có vai vế cao nhất ở đây mà?

Thiều Hoa luống cuống cau mày:

– Hôm ấy sư huynh đau chưa khỏi. Tôi có nói với sư huynh cũng vô ích.

Trịnh Quang đứng ra giữa sân, nói lớn:

– Sư muội! Đến giờ phút này mà ngươi còn muốn che dấu ư? Đêm đại chiến ở trong rừng, sư muội đã cùng một người Hán đấu kiếm, sư muội liếc mắt đưa tình với nó. Các vị huynh muội ở đây đều thấy. Tên Hán quan đó là Nghiêm Sơn, võ công rất cao cường. Chính mắt ta đã trông thấy y đấu chưởng với sư thúc. Chỉ một chưởng, sư thúc bị bại, ngã trên ván thuyền. Thế mà hôm đó y lại thua sư muội, cám ơn sư muội cho y mượn đường. Thực tế hắn chỉ dơ tay một cái là bắt được sư muội. Phất tay một cái là bắt hết chúng ta. Tại sao lại kỳ lạ như vậy?

Thiều Hoa nghe nhắc đến chuyện này, mặt nàng nóng bừng lên:

– Tôi… Tôi… cũng không biết nữa.

Trịnh Quang quát lên:

– Có gì mà không hiểu? Chỉ nhìn sư muội với nó liếc qua, liếc lại với nhau, thì đủ biết rồi. Theo sư muội nói, kẻ nào đó để dấu lại, cho nên Song-quái, Nghiêm Sơn mới biết đường chúng ta đi. Cũng vì thế Nghiêm Sơn mới đón đường gặp sư muội. Chúng ta đều nhìn tận mặt sư muội với nó nhìn nhau đắm đuối. Hắn lại tặng cho sư muội con ngựa chiến nữa. Giữa thanh thiên bạch nhật, trước mặt chúng ta, sư muội cùng hắn ruổi ngựa vào rừng tâm tình. Sư muội làm như thế mà đòi che mắt chúng ta sao? Nếu ta có đui mù, ngu si, thì hằng mấy trăm con mắt ở đây đâu có để sư muội mang voi mà bảo rằng thỏ được?

Trịnh Quang nói với mọi người:

_ Nước Âu-lạc ta hùng mạnh và lớn hơn nước Nam-việt của Triệu Đà. Võ công Âu-lạc ta bỏ xa Triệu Đà. Nỏ thần của ta bắn một phát cả ngàn mũi tên, quân Triệu Đà tan nát. Nhưng tại sao Âu-lạc bị bại? Chỉ vì Mỵ Châu bị gian tế Trọng Thuỷ đưa vào tròng tình ái, hại nước, hại cha, hại dân, rồi bản thân cũng chết. Đó là mối di hận của Âu-lạc chúng ta trải qua 184 năm. Cái hoạ Mỵ Châu trước chưa hết, thì cái hoạ Mỵ Châu thứ nhì đang tái diễn. Sư muội ơi, thế từ qua đến giờ, ngươi đi đâu vậy?

Thiều Hoa giận run người lên:

– Tôi… Tôi… đi cứu tiểu sư đệ.

Trịnh Quang hỏi:

– À thì ra thế. Ta thấy sư muội vượt đồi phía sau đi với một người, ta vội theo dõi. Sư muội, ta thấy hết rồi, ngươi cùng Nghiêm Sơn tình tự suốt đêm, sáng mới về.

Thiều Hoa uất người lên:

– Ta không có đi tình tự với Nghiêm Sơn, ta đi cứu tiểu sư đệ.

Trịnh Quang nói:

– Cứu tiểu sư đệ! Phong-châu song quái bắt tiểu sư đệ đi, võ công chúng còn cao hơn sư phụ, sư mẫu. Với bản lãnh sư muội thì làm sao mà cứu tiểu sư đệ?

Thiều Hoa hỏi vặn lại:

– Sư huynh bảo theo ta, thế thì phải biết rõ chuyện ta cứu tiểu sư đệ chứ? Tiểu sư đệ được ta cứu xong liền đi với Nghiêm đại ca, tìm sư phụ, sư mẫu.

Trịnh Quang thở dài:

– Đào trang tan nát vì quân Hán. Quân Hán muốn trừ diệt hết chúng ta, thế mà bảo tên quốc công dẫn sư đệ đi tìm sư phụ, sư mẫu thì con nít cũng không tin được. Nghiêm đại ca của sư muội tử tế nhỉ? Tại sao y lại tử tế với sư muội như vậy?

Thiều Hoa chảy nước mắt:

– Tôi cũng không biết nữa.

Trịnh Quang cười ha hả:

– Có gì mà không biết! Hắn muốn tìm một Mỵ Châu thứ nhì cho hắn mà thôi. Sư muội, Đào trang vì ngươi mà tan nát, Tường Loan vì ngươi mà bị giết, tiểu sư đệ vì ngươi mà mất tích. Hôm nay ta vì Âu-lạc mà giết một Mỵ Châu, vì Đào trang, Tường Loan mà đòi nợ sư muội. Ngươi rút kiếm ra đi.

Ghi chú của thuật giả:

Trong lịch sử các dân tộc trên thế giới, không một dân tộc nào mà lại có tính kỳ thị chủng tộc về phương diện hôn nhân như dân tộc Việt Nam. Nguyên do khởi từ Mỵ Châu lấy chồng ngoại tộc, rồi vì nhất tâm nhất chí với chồng, làm mất nước. Từ khi Thục bị diệt vong, dân Lĩnh-nam thường rất căm thù cái hận Mỵ Châu, nên giáo dục con cái thành kẻ thù, khinh ghét những người con gái Việt lấy chồng Trung Hoa. Sau này dù Trưng-vương đã dành được độc lập, nhưng tinh thần đó vẫn kéo đài trong lịch sử cho đến nay. Tiếp theo người Pháp, người Mỹ đến Việt Nam, các gia đình Việt Nam lại giáo dục con cái khinh ghét những người con gái Việt có chồng Pháp, Mỹ. Hiện nay cái di sản tinh thần này vẫn còn, dù chúng ta sống ở hải ngoại, dù người chồng Pháp, Mỹ rất lịch sự, tử tế với vợ Việt.

Trịnh Quang hô lớn:

– Sư đệ, sư muội, bao vây lấy nó. Đừng để nó chạy thoát.

Lập tức tiếng vũ khí loảng xoảng, trên 100 người bao vây kín xung quanh Thiều Hoa.

Thiều Hoa suy nghĩ:

– Tiểu sư đệ không có ở đây. Hôm nay ta khó mà đối chất được với sư huynh. Nhưng ta muốn thoát thân, thực là thiên nan vạn nan.

Nàng rút kiếm ra nói:

– Sư huynh, tôi xin thề trước đất trời là tôi không giết sư muội, không làm gian tế cho người Hán.

Trịnh Quang cười gằn:

– Sư muội tưởng chúng ta ngây thơ như trẻ con hẳn? Ta không thể tin lời thề của sư muội được nữa.

Thiều Hoa khóc:

– Khi tôi 11 tuổi, mồ côi cha mẹ, đi ở cho người chú, làm nghề chăn trâu. Chẳng may để trâu ăn hết một đám lúa, bị thím đánh đập tàn nhẫn rồi đuổi đi. Tôi đi ở với người ta, bị hiếp đáp trăm bề cay đắng May gặp sư phụ cứu về, nhận làm đệ tử, dạy dỗ cho đến ngày nay. Tôi làm sao mà phản sư môn được.

Có tiếng một sư muội nói:

– Mỵ Châu được An Dương vương cưng chiều biết là bao? Chỉ vì mù quáng trước bã tình yêu, mà đem bí quyết chế nỏ thần cho Trọng Thuỷ. Thị còn rắc lông ngỗng đưa đường cho giặc. Chúng ta mất nước vì Mỵ Châu. Bọn Hán cai trị chúng ta, coi chúng ta như thú vật. Tên Nghiêm Sơn của Hán, thân cầm quân đánh Đào trang tan nát. Thế mà sư tỷ, đội ơn sư phụ như sơn, lại nháy mắt đưa tình, kêu kẻ thù là đại ca. Tình đấy nhỉ? Ngươi chỉ vì tình mà làm chúng ta khốn khổ đến thế này, mà còn chối được ư?

Thiều Hoa rút kiếm ngẫm nghĩ:

– Ta không phản sư môn. Cũng không hại sư muội Tường Loan, ta không để dấu hiệu cho giặc. Trong lòng ta trong sáng, nhưng sự thể như thế này, ta đành chết để tạ ơn sư phụ, sư mẫu.

Nàng đưa kiếm lên cổ tự vẫn. Vèo, một ánh thép sáng loáng bay tới đánh choảng một tiếng, hất tung lưỡi kiếm của Thiều Hoa ra ngoài. Một người từ trên cây gần đó nhảy xuống, y nhô lên thụp xuống mấy cái đã cắp Thiều Hoa vào nách trái. Tay phải đâm ba thế kiếm xoẹt… xoẹt… xoẹt… gạt kiếm của Trịnh Quang và mấy sư đệ ra ngoài, rồi phóng lên ngọn đồi.

Trịnh Quang hô lớn:

– Nghiêm Sơn, để sư muội lại. Các vị sư đệ, sư muội, chúng ta mau đuổi theo tên quan Hán, cứu sư muội.

Đám đệ tử, sư muội reo hò đuổi theo. Nhưng Nghiêm Sơn và Thiều Hoa đã mất hút ở chân đồi xa xa.

Nghiêm Sơn cắp Thiều Hoa chạy một lát, tới khe suối thì ngừng lại, để nàng xuống, an ủi:

– Cô nương, cô nương có sao không?

Thiều Hoa nước mắt đầm đìa, lắc đầu:

– Không sao cả. Nghiêm đại ca, sao đại ca biết tôi bị nạn mà đến cứu?

Nghiêm Sơn thở dài:

– Trên đường đi tìm sư phụ, sư mẫu cô nương, tôi cùng tiểu sư đệ của cô đàm luận. Tôi suy ra rằng trong đám người Đào trang có kẻ gian tế. Tiểu sư đệ cật vấn tôi kẻ gian tế đó là ai. Tôi phải thề với y rằng tôi không cài một người nào vào làm gian tế trong Đào trang. Y tin tôi. Từ cái chết của Tường Loan, và việc Song-quái theo sát đoàn người của cô, tôi đoán gian tế đó là của Song-quái. Tôi để tiểu sư đệ đi trước với người của tôi. Tôi trở lại dò tìm xem gian tế đó là ai. Nhưng chưa dò ra được thì gặp việc cô nương bị nạn, tôi ra tay cứu.

Thiều Hoa nước mắt ênh ếch:

– Nhị sư huynh bảo tôi là Mỵ Châu, tôi chưa rửa được tiếng oan, thì đại ca cứu tôi, thế là tôi trở thành Mỵ Châu thực sự với mọi người. Từ nay tôi không còn đất sống nữa.

Nghiêm Sơn là người khẳng khái, võ công chàng cao cường, đầy tinh thần nghĩa hiệp. Tuy là đại quan người Hán, song y nhìn người Hán, người Việt đều giống nhau. Trong cách đối xử, chàng không phân biệt. Đi đến đâu gặp bọn quan người Hán tàn ác, lập tức chàng ra lệnh xử tử. Vì vậy từ ngày chàng sang Lĩnh-nam, dân chúng được tự do, bớt cơ cực rất nhiều.

Hồi nhỏ chàng đọc sách của Khương Thái-công, của Tôn Ngô, Khổng Mạnh. Chàng mơ màng một ngày kia mang ra áp dụng. Chàng sang Lĩnh-nam, với uy quyền lớn, lòng tràn đầy thiện cảm với người Việt. nhưng… sự việc xảy ra không như chàng muốn.

Chàng nghe lời báo cáo của Thái-thú Nhâm Diên, rằng đất Cửu-chân có hai ổ cướp tụ tập trong Đào, Đinh trang, chàng bàn cùng thái thú Tích Quang, mang quân vào trợ chiến. Không ngờ sau trận chiến, chàng được biết Đào, Đinh chính là đất của anh hùng nghĩa hiệp.

Chàng khẳng khái nói với Thiều Hoa:

– Cô nương hãy gạt bỏ sầu muộn. Tôi không phải là kẻ ngu đần như Trọng Thuỷ. Cô nương cũng không phải là Mỵ châu. Việc chúng ta, chúng ta cứ làm, ai hiểu thì hiểu. Ai không hiểu thì mặc. Thời gian sẽ trả lời.

Mặt trời đã đứng bóng. Thiều Hoa hỏi:

– Đại ca đói không, để tiểu muội kiếm cái gì ăn đã.

Nghiêm Sơn hỏi:

– Giữa rừng núi bao la thế này, kiếm đâu ra thực vật bây giờ?

Thiều Hoa chỉ xuống suối nói:

– Đại ca không thấy sao? Kìa dưới suối đầy cá đang nhởn nhơ bơi lội, bắt lên nướng ăn, cũng đỡ đói.

Thiều Hoa sống ở vùng rừng núi, ven biển, quanh năm đầy cá, nên nàng rất thạo cách bắt cá. Nàng rút kiếm cắt một cây trúc ven suối, chặt lá, cành đi rồi vót nhọn. Nàng đứng trên mỏm đá giữa suối, nhìn đàn cá bơi lội qua, rồi phóng cành trúc xuống suối. Cứ mỗi lần phóng lại được một con cá. Nhìn dáng điệu thanh tú, tươi như hoa của nàng, Nghiêm Sơn nhủ thầm trong lòng:

– Ta có người vợ như Thiều Hoa thì dù chết đến mấy lần cũng cam tâm. Nhưng ta lại là người Hán. Người Hán tàn ác, coi người Việt như súc vật. Mới đây sư môn của nàng tan nát vì người Hán. Chính ta là người chỉ huy quân đánh phá. Thành ra giữa ta với nàng có cả mấy ngọn đồi ngăn cách.

Chàng ôn lại trong trí nhớ:

“Năm nay ta đã 26 tuổi rồi. Kể từ khi giúp nghĩa huynh Lưu Tú trung hưng nhà Hán, đến giờ đã 9 năm trời. Nghĩa huynh xưng Quang Vũ hoàng đế, lấy niên hiệu là Kiến Vũ. Có thể nói, ta là đệ nhất công thần nhà Hán. Kể từ khi khởi nghiệp, ta vào sinh ra tử, đánh dư trăm trận, đã chiếm được Trung-nguyên, ta chỉ huy các đại tướng Sầm Bành, Đặng Vũ chiếm chín quận thuộc Kinh-châu. Nhưng Kinh-châu thì phía Tây có Ích-châu, phía Nam có Lĩnh-nam đều không phục tùng nhà Hán. Ta đề nghị với nghĩa huynh, cần phải đánh chiếm Lĩnh-nam hầu có một cơ sở vững chắc. Từ đó mới tiếp tục đánh Liêu-đông, Ký-bắc, Lũng-tây được. Nghĩa huynh đồng ý, cầm gươm cắt đất thề rằng sau khi được thiên hạ, thì anh em sẽ chia nhau giang sơn, hưởng phú quý. Nhưng ta khẳng khái nói rằng: “Ta là người nghĩa hiệp. Giúp nghĩa huynh cũng chỉ vì nghĩa hiệp. Sau khi đại nghiệp thành, ta sẽ một người, một ngựa, tiêu dao sơn thuỷ giúp khốn phò nguy.” Nghĩa huynh đề nghị ta đánh Lĩnh-nam. Ta đưa ra ý kiến rằng Lĩnh-nam là đất xa xôi với Trung-nguyên, không cần mang quân đánh. Ta xin đem Hợp-phố lục hiệp theo, để kinh lược. Nghĩa huynh phong ta làm Lĩnh-nam công, lĩnh Bình-nam đại tướng quân, coi như cho ta làm vua Lĩnh-nam.

Ta âm thầm đến Lĩnh-nam. Ta cùng Hợp-phố lục hiệp thuyết phục các thái thú Nam-hải, Tượng-quận, và Quế-lâm đầu Hán. Hai thái thú Nam-hải, Tượng-quận theo gió mà quy phục, nên ta để nguyên cho họ ở ngôi vị cũ. Thái thú Quế-lâm chống lại, ta giết chết y và cử sư thúc của ta thay thế.

Ta tiếp tục tiến xuống Nam. Thái thú Giao-chỉ là Tích Quang, Thái-thú Cửu-chân là Nhâm Diên khoanh tay quy phục. Thái-thú Nhật nam chống lại, ta cũng giết chết, và cử một người thân tín thay thế. Vì vậy… trên thực tế, ta chỉ được có hai quận Quế-lâm, Nhật Nam. Còn bốn quận, thì Thái-thú vẫn nắm binh quyền, cắt cử các quan văn võ, luôn luôn trái ý ta. Nếu ta cử quân đánh chúng, thì hoá ra rối loạn, khiến cho Trung-nguyên lâm nguy. Bây giờ, ta cần thu phục anh tài Lĩnh-nam, đề cử họ vào những chức vụ quan trọng. Khi cơ sở đã vững chắc, ta mới có thể dùng quyền với bọn thái thú, hầu cải cách cho dân chúng được hưởng hạnh phúc. Trước mắt ta, Hán cũng vậy, Việt cũng thế, nếu ta tạo được hạnh phúc cho họ, thì mới đáng gọi là người nghĩa hiệp. Nhưng ngoài Hợp-phố lục hiệp ra, không ai hiểu được ta. Người Hán thù hằn ta tại sao lại đi bênh vực dân Việt. Người Việt coi là “con chó Ngô”, là bọn “Tàu phù kinh tởm.” Không ngờ trong lúc đánh Đào, Đinh trang, ta được một chú bé Đào Kỳ hiểu ta. Y không thù oán ta làm cho y nhà tan cửa nát, mà lại có ý tác thành vị sư tỷ sắc nước hương trời cho ta”.

Thiều Hoa trở lại với một xâu cá. Nàng chặt củi khô, đốt lên, nướng. Mỡ cá gặp lửa cháy xèo xèo thơm nức, làm Nghiêm Sơn nuốt nước miếng không ngừng.

Nàng nướng xong một xâu, giơ tay vẫy Nghiêm Sơn:

– Xin mời Bình-nam đại tướng quân lại xơi cá nướng.

Tuy là câu nói đùa, nhưng nó cũng như nhát búa đập vào ngực Nghiêm Sơn, chàng bước tới cạnh Thiều Hoa cầm lấy con cá nướng, mỡ cháy béo ngậy bóng loáng.

Thiều Hoa vẫn đùa:

– Đại nhân đã xơi cá rô ở đất Nam-man bao giờ chưa?

Nghiêm Sơn nghiêm nét mặt lại;

– Cô nương! Tôi là thằng con trai thô kệch, tên võ phu, được cô nương nhìn mặt đã là quý rồi. Huống chi cô nương không coi tôi là cừu thù, cùng tôi nói chuyện bên suối hoang này. Dù tôi có chết đến hai lần cũng không uổng cuộc đời. Huống hồ cô nương còn nướng cá cho ăn. Xin cô nương đừng gọi tôi là đại nhân, đại quan nữa. Giữa chúng ta, phải xoá bỏ tất cả những gì là Nam-man, ác Hán đi, có phải là đẹp biết bao không?

Thiều Hoa rung động toàn người, nàng không dám đùa nữa:

– Tôi đùa vậy thôi, đại ca đừng trách làm gì? Tôi còn bé nhỏ mà.

Câu “tôi còn bé nhỏ mà” thốt ra từ khuôn mặt đẹp như ngọc, với đôi mắt thành khẩn, làm Nghiêm Sơn ngây ngất. Chàng thấy trong ánh mắt trong đen trên khuôn mặt nhu nhã của nàng có hình ảnh mình. Chàng tự nhủ:

– Ta thực vô dụng. Nếu ta là Khuất Nguyên, ta sẽ làm một bài Sở từ để ca tụng nàng:

Nàng cùng ta bên bờ suối hề,

Bốn mắt đắm đuối nhìn nhau hề,

Ta thả hồn hề! Bơi lội trong lòng mắt nàng hề.

Chỉ có tình yêu là không cách biệt hề, thù hận mà chi.

Hán mà chi, Việt mà chi hề, ta nguyện yêu nàng.

Ta ước được quỳ dưới chân nàng hề, để tỏ yêu thương.

Nếu ta được ôm chân nàng hề, rồi chết cũng can tâm.

Thiều Hoa thấy Nghiêm Sơn đăm đăm nhìn mình, vội cúi đầu quay đi phương khác. Hai người ngồi im ăn cá nướng.

Trên đời Nghiêm Sơn, đã từng thưởng thức không biết bao nhiêu sơn hào hải vị, đây là lần đầu tiên chàng được ăn một bữa ăn giữa rừng, uống say rượu tình. Hồn phách chàng bay theo áng mây trắng trôi trên đồi xa xa.

Ăn xong Thiều Hoa nói:

– Nghiêm đại ca, bây giờ tôi không thể trở về với sư huynh, sư đệ của tôi nữa. Tôi đi tìm tiểu sư đệ của tôi, rồi cùng đi tìm sư phụ, sư mẫu. Còn đại ca! Đại ca về đâu?

Nghiêm Sơn thấy nàng như không muốn đi cùng mình, thoáng vẻ buồn ra nét mặt:

– Làm cho Đào, Đinh nhị trang bị tan nhà nát cửa là Nhâm Diên. Nhưng đại trượng phu phải quang minh lỗi lạc, tôi nhận mình có phần lỗi ở trong đó. Vậy tôi xin cùng cô nương và tiểu sư đệ của cô đi tìm sư phụ, sư mẫu cô. Người Đào, Đinh đông như vậy, mà thủ hạ của tôi cũng nhiều, tìm đâu khó?

Hai người lên đường, quẹo qua hốc núi, thì thấy Hợp-phố lục hiệp đang ngồi chờ ở đó. Nhất hiệp cung kính:

– Quốc công, chúng tôi tìm người suốt từ sáng đến giờ mà không gặp. Nay Quốc-công trở về thực may quá. Thôi chúng ta lên đường đi Long-biên.

Thiều Hoa hỏi Nghiêm Sơn:

– Đại ca! Đại ca là người kinh nghiệm nhiều, thử đoán xem ai là thù phạm giết Tường Loan, và họ ẩn nấp ở Đào trang để làm gì?

Nghiêm Sơn biết Thiều Hoa hỏi câu đó thì đã hết nghi ngờ chàng là thủ phạm gài người vào Đào trang, nên vui vẻ đáp:

– Tôi nghĩ chưa ra. Trong đám huynh đệ của cô, thì chỉ có cô với Trịnh Quang là có khả năng đánh một chiêu kết liễu tính mạng Tường Loan. Võ công nhà cô thiên về dương cương thì nhiều, mà âm nhu thì ít. Nhưng chiêu thức mà Tường Loan bị giết hoàn toàn âm nhu. Nội công âm nhu ấy tôi nghĩ không phải của Đào trang, mà là của phái Tản-viên. Hơn nữa muốn có âm kình đến trình độ đó, thì phải trải qua ít nhất là bảy, tám năm luyện nội công. Cô nương, cô nương đến Đào trang được mấy năm rồi?

Thiều Hoa đáp:

– Tôi là đứa trẻ mồ côi, tứ cố vô thân, bị người đời làm nhục, được sư phụ cứu về nuôi dạy từ năm 11 tuổi, đến nay là bảy năm. Còn nhị sư huynh là con người tỳ nữ của sư phụ tôi, đến Đào trang từ năm 13 tuổi, đến nay là 12 năm. Lúc đầu tôi nghĩ Trịnh Quang giết Tường Loan. Nhưng sau tôi thấy không phải vì hôm ấy Trịnh Quang bị thương rất nặng, không ra tay được. Còn trong đám sư muội, sư đệ của tôi võ công đều ngang Tường Loan, không ai đủ công lực giết nàng. Cuối cùng tôi nghĩ, có lẽ người của phái Tản-viên ẩn náu đâu đó giết Tường Loan. Bây giờ thì các sư huynh, sư đệ của tôi kết tội tôi giết sư muội… Ha! Thực là “Nước đục bụi trong là thế đó.”

Thiều Hoa thở dài nhắc lại:

– Dù tôi là nước bị tiếng là đục. Mà kẻ sát nhân lại được tiếng là trong. Đời chán quá nhỉ? Người ta đổ cho tôi giết sư muội, làm gian tế cho người Hán, và là… và là… Mỵ Châu.

Nghiêm Sơn an ủi:

– Cô cần tỉnh trí, chúng ta sẽ cùng nhau tìm hung thủ, giết y trả thù cho sư muội cô, rửa tiếng oan cho cô. Còn cô không làm gian tế cho người Hán thì là đương nhiên rồi. Còn bảo cô là Mỵ Châu ư, cái đó… cái đó…

Thình lình có tiếng cười khúc khích:

– Mỵ Châu là Mỵ Châu! Thiều Hoa là Thiều Hoa! Mỵ Châu là một cô gái ngu xuẩn, khác với Thiều Hoa là một cô gái khôn ngoan. Trọng Thuỷ là anh chàng chung tình, sang làm phò mã Âu-lạc để mưu cướp nước. Còn Nghiêm đại ca sang đây với hoài bão diệt bọn Hán, Việt tham ô nhũng lạm. Muôn ngàn lần khác nhau. Trong con mắt tiểu đệ thì Nghiêm đại ca là một đại hiệp.

Thiều Hoa nhận ra tiếng tiểu sư đệ Đào Kỳ, mừng quá nàng reo lên:

– Tiểu sư đệ!

Đào Kỳ từ trên cây nhảy xuống. Nó múa cây côn đồng lấy ở đền thờ Cao Nỗ nói:

– Sư tỷ, chúng ta trở lại trang Cao hầu để tiểu đệ rửa tiếng oan cho sư tỷ. Tiểu đệ chắc không ai làm khó dễ sư tỷ đâu. Liệu nhị sư huynh dám giết tiểu đệ sao?

Nghiêm Sơn bảo Kỳ:

– Không được! Hoàn toàn không được! Chúng ta hiện chưa biết gian tế là ai. Sư đệ trở lại, có khi bị hại là khác. Thôi chúng ta đi Long-biên rồi đến Cổ-loa tìm người của Đào, Đinh trang đã.

Nghiêm Sơn bảo Hợp-phố lục hiệp:

– Lục vị sư huynh, sư đệ! Khi chúng ta khởi hành đi Lĩnh-nam, đã có lời hứa với nhau là làm sao ta cho dân chúng sáu quận được hạnh phúc. Hiện chúng ta mới nắm được hai quận. Còn bốn quận, quyền bính vẫn nằm trong tay bọn tham ô. Bây giờ nếu chúng ta bắt chúng cải cách, thì chúng sẽ trở mặt làm phản. Vậy tôi đề nghị thế này: Chúng ta áp dụng lối tằm ăn dâu, cải cách từ quận một.

Hợp-phố nhị hiệp Lư Dương hỏi:

– Theo ý sư đệ, thì bây giờ chúng ta kinh lược quận nào trước?

Nghiêm Sơn đáp:

– Giao-chỉ thì thế lực của Tích Quang quá lớn, chưa thể ra tay được. Cửu-chân thì qua trận đánh Đào, Đinh trang, bộ mặt giả nhân giả nghĩa của Nhâm Diên đã bị lộ. Trong chín thế lực Cửu-chân, có đến bảy, tám khinh ghét y. Trận đánh vừa qua, Đào hầu, Đinh hầu tuy người ít, thế cô, mà đốt phá phủ thái thú, giết vợ, con, mẹ già của y. Y hiện kinh hồn táng đởm. Trong trận đánh, hai sư trưởng thân tín của y bị đại đệ tử của Đinh hầu là Quách Lãng giết chết. Một bị trưởng nam của Đào hầu là Đào Nghi Sơn giết chết. Đệ nhân đó, cắt cử hai người thân tín thay thế. Sẵn giữa lúc y kinh sợ, tiểu đệ lên tiếng trách cứ y giữa các quan văn, vũ về tội “cáo gian.” Hiện binh quyền đệ đã nắm được. Y bị cô thế.

Hợp-phố tam hiệp Hà Thiên hỏi:

– Quan trọng nhất là phủ Đô-sát. Vậy hiền đệ phải cách chức Chu Khải. Rồi một trong anh em chúng ta nắm lấy.

Nghiêm Sơn cười:

– Không được. Đô-sát là chức vụ cần nhiều chân tay. Nếu bây giờ chúng ta giết Chu Khải, rồi nhảy vào thay thế thì hệ thống Tế-tác sẽ bị tê liệt. Tốt hơn hết tiểu đệ sẽ cử Vũ Hỷ vào chức vụ đó.

Hà Thiên ngạc nhiên:

– Chúng ta dùng tên ma đầu đó ư? Như vậy chúng ta sẽ tàn hại nhân dân không ít.

Nghiêm Sơn tủm tỉm cười:

– Tam ca ơi! Tam ca chưa quen dùng người. Đệ đã từng cắt cử trăm vạn người ở Trung-nguyên, nên rất thạo. Song-quái tàn ác, ta cử chúng vào chức vụ Đô-sát, chúng sẽ thẳng tay trừ khử bọn tay chân của Nhâm Diên, đưa người của chúng vào. Thế là hai phe Nhâm Diên, Song-quái chống nhau. Ta ở giữa thấy người của phe nào có tài, có khí tiết, thì thu phục lấy mà dùng. Sau khi Song-quái cầm quyền ít lâu, tính ác đã quen, y tàn hại dân chúng, ta dùng quân pháp chặt đầu y rồi anh em ta nắm lấy toà Đô-sát, thế thì mọi chuyện mới yên. Vậy… bây giờ các vị sư huynh âm thầm dùng binh phù của tiểu đệ, kinh lược Cửu-chân. Gặp Huyện-úy, Huyện-lệnh nào ác đức thì bí mật giết chết. Tiểu đệ sẽ cử người khác thay thế. Như vậy chỉ cần mấy tháng, ta sẽ nắm được đất Cửu-chân.

Lục-hiệp đi rồi, Nghiêm Sơn, Thiều Hoa, Đào Kỳ lên đường. Phải mất hai ngày mới tới Long-biên. Long-biên là vùng đất phì nhiêu, bờ xôi, giếng mật, cây cỏ tốt tươi. Trời đang tiết thu, lá vàng rơi vụng khắp nơi. Cây cỏ tiêu sơ, gió heo may hiu hiu đem cái lạnh len lỏi vào không gian.

Trưa hôm đó thì tới một con sông.

Đào Kỳ hỏi:

– Sông này là sông gì vậy?

Nghiêm Sơn nói:

– Đó là sông Hồng-hà. Sông Hồng-hà chẻ một nhánh đổ vào một cái hồ rất lớn, đó là Dâm-đàm, phong cảnh rất đẹp, chúng ta nên qua đó chơi cho biết. Có điều chúng ta phải cải trang thành người Việt để không bị chú ý.

Nghiêm Sơn lấy trong bọc ra bộ quần áo Việt mặc vào.

Chàng bàn với Đào Kỳ:

– Chúng ta đi tìm thân phụ của đệ thì cần tránh con mắt tò mò của mọi người. Ta giả xưng là Lạc tướng, còn Thiều Hoa với đệ giả làm em ta.

Thiều Hoa thấy Nghiêm Sơn bảo mình với sư đệ là em, có điều không ổn, vì hình dáng ba người quá khác nhau. Nhưng tính tình nàng vốn nhu thuận, nên không phản đối. Đoàn người tới bến đò.

Đào Kỳ nói:

– Nghiêm đại ca, nước ở đây chảy xiết quá, thuyền đi muốn không được. Hồi ở Cửu-chân, tiểu đệ thích lội lắm, có lần tiểu đệ bơi từ bờ đến đảo Nghi-sơn. Đại ca có biết lội không? Chúng ta nhảy xuống lội sang bờ bên kia đi.

Nghiêm Sơn sống ở vùng rừng núi, có khi quanh năm không nhìn thấy sông, chàng lội rất dở. Chàng thấy sông Hồng mênh mông chảy siết thì trong lòng đã sợ rồi, thì còn nói gì đến bơi sang bờ bên kia nữa.

Chàng lắc đầu:

– Ta bơi rất dở. Và dù có bơi giỏi đến mấy chăng nữa, nước sông chảy siết như thế này, làm sao bơi qua được.

Thiều Hoa cười khanh khách:

– Đại ca không biết đâu. Nó là con rái cá đất Cửu-chân đấy. Trong tất cả sư huynh muội trong nhà, nó là người lội giỏi nhất. Bọn chúng “em” chỉ luyện võ trên đất mà thôi, chứ tiểu sư đệ chuyên nhảy xuống nước luyện võ. Đánh nhau trên cạn thì “em” hơn nó, chứ đánh nhau dưới nước thì không lại nó đâu.

Vô tình nàng xưng “em” với Nghiêm Sơn, chợt nghĩ lại mặt nàng đỏ như gấc.

Thời bấy giờ, tại mỗi bến đò, đều có người chở thuê. Bến đò sông Hồng vùng Long-biên là nơi khách qua lại suốt ngày, trên bờ có mấy quán nước, bán hoa quả, bánh trái. Nhà đò có năm, sáu nhóm khác nhau. Đò ở đây lớn như thuyền đinh. Bến đò có năm cái thuyền lớn đậu sẵn. Phu đò thấy một người đàn ông, một thiếu nữ và một đứa trẻ, cưỡi ngựa, trang phục theo người Việt. Họ đoán đây là một Lạc-hầu, Lạc-tướng, nên lễ phép hỏi:

– Chẳng hay Lạc-hầu cần dùng mấy đò?

Thiều Hoa đã dặn Nghiêm Sơn không nên nói nhiều, sợ bị lộ hình tích, mọi sự do nàng và Đào Kỳ xếp đặt:

– Chúng tôi có ba người và ba ngựa, thì cần mấy đò? Giá chở bao nhiêu tiền?

Người chủ đò nói:

– Thưa cô nương, cần một đò cho ngựa, và một đò cho người. Xin cô nương cho một trăm đồng.

Sự thực giá thuê một đò qua sông như vậy giá có 20 đồng. Nhà đò đòi gấp năm lần, mà Thiều Hoa vẫn vui vẻ:

– Được, tôi trả cho ông 150 đồng. Thôi, dắt ngựa xuống đò đi.

Đò bắt đầu rời bến, nước sông đỏ như màu máu, dập dềnh chảy siết. Lần đầu tiên Đào Kỳ được đi đò trên con sông chảy siết như thế này, nó thích lắm.

Thiều Hoa là người tinh tế, nàng chú ý đến đám nhà đò. Con thuyền lớn như vậy mà chỉ có một người lái, hai người chèo. Mỗi lần người chèo kéo mái, con thuyền vọt lên trước như cưỡi trên sóng.

Nàng nghĩ thầm:

– Có lẽ họ chèo đò lâu rồi thành quen như mình luyện nội công vậy chăng? Hay là họ có võ công cao cường? Khó mà biết được.

Đò đã đến giữa sông.

Đào Kỳ hỏi người chèo đò:

– Này anh, anh cho tôi chèo một tí được không?

Người chèo đò hỏi:

– Tiểu công tử, công tử đã chèo đò bao giờ chưa? Nếu chưa thì đừng chèo, lỡ ra thuyền bị lật úp thì chết hết.

Đào Kỳ nói:

– Tôi đã chèo thuyền trên biển nhiều lần, nhưng chưa chèo trên sông bao giờ. Bởi vậy mới xin anh cho chèo thử.

Con đò tự nhiên đổi hướng, trôi theo giòng, chứ không sang ngang nữa.

Thiều Hoa bảo người lái đò:

– Này ông lái, chúng tôi muốn sang ngang sông, chứ không muốn đi xa, xin ông quay lại cho.

Người lái đò không trả lời, cất tiếng hát, giọng rất cao:

Ba mươi tết, tết lại ba mươi,

Vợ thằng Ngô đốt vàng cho chú Khách.

Đây là bài hát của dân gian. Thời bấy giờ Việt bị Trung Hoa cai trị đã 184 năm, mối uất hận không nơi phát tiết, họ thường đặt ra những câu ca dao để châm biếm những người Việt xu phụ người Hán. Mục tiêu đầu tiên của họ là những người con gái Việt lấy chồng Hán. Họ gọi người Hán là “Thằng Ngô,” là “Chú Khách.” Ngô nguyên là một nước nhỏ ở cạnh nước Việt hồi Chiến– quốc, sau bị Tần đồng hoá, một số người Ngô chạy sang tỵ nạn ở nước Việt. Người Việt gọi họ là “Thằng Ngô.”

Thiều Hoa nghe câu hát chột dạ:

– Không lẽ người lái đò đã biết Nghiêm đại ca là người Hán, nên hát câu này để chửi xéo ta?

Người lái đò vẫn cho đò xuôi giòng nói:

– Cô nương không biết đấy thôi, nước chảy thì mạnh, mà sức người có hạn, nên phải cho chạy xuôi giòng, mũi hơi hướng sang bên kia bờ.

Ông dùng chân kẹp tay lái, mắt mơ màng nhìn về hạ lưu mịt mờ xa xa tận chân trời, rồi rút ra ở sau lưng một ống tiêu bằng trúc, đưa lên miệng thổi. Tiếng tiêu bay ra xa, dội vào sóng nước, vang trở lại hợp với tiếng tiêu thành một âm điệu kéo dài, sầu thảm dằng dặc. Khi thì bay bổng lên cao tản ra bầu trời xanh biếc mùa thu.

Đào Kỳ nói với ông lái:

– Này bác ơi! Tôi thấy ở mỗi con đò ngang, có người kéo nhị, có người đánh đàn, mà chưa bao giờ thấy người thổi tiêu. Bác lái ơi, bác vừa lái vừa thổi tiêu mà tiếng tiêu khi thì như khóc, như than của mối hờn vong quốc. Khi thì sầu thảm của người anh hùng không gặp thời. Có lúc lại đổi giọng hùng tráng như Hạng Võ từ Sở vượt sông đánh Tần. Khúc này tôi chưa từng nghe qua bao giờ.

Người lái đò:

– Tiểu công tử. Tôi nghe công tử nói tiếng hơi nặng, dường như ở miền Cửu-chân mới ra. Công tử còn nhỏ, mà đã nhận được tiếng tiêu mang giọng sầu thảm vô tận của người anh hùng, quả thực công tử là người tài tử vậy. Công tử có biết bài tiêu vừa rồi tên gì không?

Đào Kỳ nói:

– Tôi không biết âm nhạc, vả lại khúc tiêu vừa rồi tôi nghe lần đầu, nên không biết tên. Cứ nhìn nét mặt say sưa của bác, tôi biết bác là người soạn ra khúc nhạc này vậy.

Người lái đò chắp tay vái Đào Kỳ:

__ Thực là tri âm hạnh ngộ. Khúc đó tên là Cổ-loa di hận vậy. Đây là tiếng của những anh hùng khi qua Cổ-loa, nhìn bia tàn cây cỗi, nghe tiếng quốc kêu, như dục đã, như bồi hồi nhớ lại thời An-dương vương thủa xưa anh hùng là vậy, mà nay thì đâu? Để tôi thổi một khúc nữa, nhờ tiểu công tử phẩm bình.

Ghi chú của thuật giả:

Khúc Cổ-loa di hận được lưu truyền cho đến nay. Hồi thơ ấu, thuật giả thường được nhũ mẫu tấu đàn tranh và hát cho nghe khúc này nhiều lần dù bà là người… Trung-quốc. Tương truyền, tác giả là anh hùng dân tộc Nguyễn Tam Trinh sáng tác ra. Nguyễn Tam Trinh cũng là tổ của môn vật tộc Việt.

Người lái đò lại thổi một khúc khác, lần này tiếng tiêu nồng nàn, nhưng buồn man nác, đầy vẻ yêu đương. Tiếng tiêu dứt, mà Nghiêm Sơn, Thiều Hoa vẫn còn ngồi ngơ ngẩn xuất hồn.

Người lái đò hỏi Đào Kỳ:

– Xin công tử dạy cho ít lời.

Đào Kỳ nói:

– Khúc này khác khúc trước. Khi thì đầm ấm như tình yêu đôi lứa trên sông. Khi thì nỉ non như thiếu nữ phòng khuê một mình nhớ tình quân. Khi thì nức nở như đôi trai gái yêu nhau mà tình chẳng tròn. Này ông lái, đó là khúc gì vậy?

Người lái đò chắp tay vái một lần nữa:

– Tiểu công tử thực thông tuệ khác thường, đúng là tri kỷ của ta. Từ ngày ta soạn khúc này đến giờ, chưa một ai hiểu ta. Người hiểu ta đầu tiên là công tử đó. Khúc nhạc này có tên Trường hận Trương Chi. Công tử, công tử có thể cho ta biết quý danh được không?

Ghi chú của thuật giả:

Khúc Trường-hận Trương Chi tương truyền do Trương Chi sáng tác. Sau được anh hùng Nguyễn Tam Trinh sửa đổi, gọi là Trường-hận Trương Chi. Nay thất truyền.

Đào Kỳ vỗ tay khen:

– Thì ra là khúc Trường-hận Trương Chi. Tôi nghe nói thời Hùng vương có một người đánh cá tên Trương Chi. Người chàng thực xấu, nhưng tiếng tiêu, tiếng hát của chàng thì thực hay. Một ngày kia chàng đánh cá trong đêm trăng, thả đò giữa sông, thổi khúc tiêu vào với mây nước. Khúc tiêu bay đến phòng Mỵ Nương, con quan thừa tướng. Nàng Mỵ Nương yêu thương người nghệ sĩ, mà không thấy mặt. Rồi có thời, Trương Chi bị bệnh không đánh cá đêm, tiếng tiêu không còn đưa tới lầu Mỵ Nương. Nàng tưởng nhớ tiếng tiêu, tiếng hát mà thành bệnh. Các thầy thuốc đều không tìm ra bệnh Mỵ Nương, tưởng rằng nàng phải chết. Không ngờ đêm trăng sáng, Trương Chi lại chèo đò đánh cá, thổi tiêu. Mỵ Nương nghe tiếng tiêu của chàng trăm bệnh đều khỏi. Quan thừa tướng tìm ra cội rễ bệnh của con, người cho gọi Trương Chi đến để coi mặt. Khi Trương Chi bước vào, Mỵ Nương thấy mặt chàng xấu xí thì đuổi ra. Trương Chi bị đuổi, cảm thấy nhục nhã, nhảy xuống sông mà chết. Từ đó đêm đêm, hồn chàng hiện về, thổi tiêu, hát vang vang bên sông. Mỵ Nương thấy chàng chết, hối hận, đêm núp bên bụi trúc bên sông, để nghe tiếng tiêu của chàng. Nước mắt nàng nhỏ vào bụi trúc, nên ngày nay trúc đều có vằn như giọt lệ.

Người lái đò gật đầu:

– Công tử nhỏ tuổi, mà đã biết được những kỳ tích của thời Hùng vương. Công tử vẫn chưa cho tôi được biết cao danh, quý tánh?

Đào Kỳ nói:

– Cao danh thì không có đâu. Tôi họ Đào, tên Kỳ.

Ông lái đò giật mình:

– Chẳng hay công tử với Lạc-hầu Đào Thế Kiệt, nổi danh là Cửu-chân song kiệt có liên hệ gì?

Thiều Hoa liếc mắt chờ Đào Kỳ, nó hiểu ý sư tỷ, đáp:

– Cửu-chân có tới năm trang họ Đào, gia phụ tuy họ Đào, nhưng không phải là Cửu-chân song kiệt.

Người lái đò nói:

– Tôi hằng ngưỡng mộ danh tiếng Đào hầu từ lâu. Nghe ngài là người võ công bậc nhất vùng Cửu-chân. Dường như mới đây Đào trang bị quân Hán đánh phá, không hiểu ngài có còn tại thế không?

Đào Kỳ hỏi:

– Thì ra ông cũng là người có tâm huyết với đất nước. Chúng tôi cả gan dám thỉnh quý tính đại danh?

Đáp:

– Tôi họ Nguyễn, tên Tam Trinh.

Thiều Hoa, Nghiêm Sơn cùng úi cha lên một lúc. Còn Đào Kỳ nói:

– Thì ra là Đệ-tứ thái-bảo Sài-sơn, Nguyễn tiên sinh, sấng tổ về môn vật. Chúng tôi có mắt không ngươi, thực là khiếm lễ.

Đào Kỳ, Thiều Hoa đồng chắp tay hành lễ.

Ông lái đò chắp tay đáp lễ:

– Không dám! Không dám! Chẳng hay nhị vị đến Long-biên có chuyện gì? Đường Cửu-chân đến Long-biên xa diệu vợi, đất Long-biên là nơi rồng nằm hổ phục, phải cẩn thận.

Thiều Hoa nói:

– Cảm tạ lão bá có lời dạy dỗ, chị em chúng tôi xin ghi lòng tạc dạ.

Tam Trinh nói:

– Các anh hùng Lĩnh-nam đều tụ ở đất Long-biên. Bọn chó săn tai mắt người Hán cũng không ít. Chư vị phải cẩn thận. Chư vị cải trang như thế này, che mắt dân chúng thì được, chứ che mắt những hào kiệt thì không được đâu, họ nhìn sơ là biết liền.

Đào Kỳ lễ phép hơn, nó tự xưng là cháu, không dám xưng tôi nữa:

– Lão bá, chẳng hay chúng cháu hoá trang có chỗ nào sơ hở?

Tam Trinh cười:

– Công tử cùng sư tỷ thì không có chỗ nào sơ hở cả. Nhưng vị đại nhân đây thì sơ hở nhiều. Thứ nhất là ba con ngựa đều là giống ở phương Bắc, không phải ngựa của Âu-lạc, Văn-lang. Kiếm của hai vị đúng là kiếm Âu– lạc, dài mà nhỏ. Còn kiếm của vị đại nhân đây là kiếm của vùng Hợp-phố. Ha… ha… các phái võ ở Cửu-chân đều chống giặc Hán. Hai vị là đệ tử danh gia, cớ sao lại nhẹ thể đi cùng với tên quan Hán này?

Thình lình, Tam Trinh đứng dậy phát chưởng hướng Nghiêm Sơn đánh liền. Nghiêm Sơn tuyệt không đề phòng, vì Tam Trinh đang nói, không có dấu hiệu, triệu chứng gì cả. Chiêu phát như vũ bão. Nghiêm Sơn xuất chưởng đỡ.

Bình một tiếng cả hai lảo đảo lùi lại. Nghiêm Sơn bị thuyền lắc lư đứng không vững.

Tam Trinh kêu lên:

– Giỏi! Thì ra một cao thủ người Hán. Tiếp một chưởng nữa của ta.

Ông lão phóng chưởng ra. Nghiêm Sơn vận đủ mười thành công lực đánh lại. Bùng một tiếng, con đò nghiêng đi. Nghiêm Sơn nhảy lên để khỏi bị ngã. Tam Trinh quét một cước ngang chân y. Trong khi đó, hai người chèo thuyền cũng cầm chèo làm vũ khí giao chiến với Thiều Hoa và Đào Kỳ.

Con đò không người lái, quay tròn giữa sông, rồi lật úp. Cả bọn chìm xuống sông. Đào Kỳ lặn ra xa, rồi trồi lên. Nó thấy Nghiêm Sơn đã bị bắt.

Thiều Hoa còn đang chống trả.

Đào Kỳ kêu lớn:

– Mai-động lão bá, đừng hiểu lầm, người nhà cả mà.

Còn con thuyền chở ngựa đã chèo đến, vớt bọn Tam Trinh cùng hai người chèo đò. Họ lôi Nghiêm Sơn, Thiều Hoa lên.

Tam Trinh gọi Đào Kỳ:

– Đào công tử, nhảy lên thôi!

Đào Kỳ nhảy vọt lên thuyền đáp xuống bên sư tỷ, thì thuyền đã cập vào một thôn bên sông.

Tam Trinh hỏi Thiều Hoa:

– Xin cô nương cho biết quý tính phương danh?

Đào Kỳ đáp:

– Sư tỷ của cháu họ Hoàng, tên Thiều Hoa.

Tam Trinh nói:

– Đào tiểu công tử là tri kỷ của ta. Ta không làm khó dễ công tử cùng sư tỷ đâu. Bèo mây gặp nhau, xin ghé thôn trang để cùng uống trà nên chăng?

Đào Kỳ thấy Tam Trinh võ công cao cường. Bắt người mà vẫn nói năng nho nhã, từ tốn, khiến nó tự nhủ thầm:

– Cha ta thường nói, phái Sài-sơn là đời sau của Phù-đổng Thiên-vương. Hiện phái này có tám vị Thái-bảo, võ công đạo hạnh khó ai sánh kịp. Họ là người tập võ, nhưng tiêu dao, phơi phới như tiên. Vị này là vị thứ tư, hèn chi nói năng nhẹ nhàng, hành động lịch sự.

Nó nói:

– Được cao nhân cho nghe nhạc, lại chở qua sông, ở đời dễ mấy khi có duyên kỳ ngộ. Nhưng còn vị đại ca của chúng tôi, tiên sinh định đối phó như thế nào đây?

Nguyễn Tam Trinh cười:

– Tôi cần biết y là ai đã? Dù là ai chăng nữa, thì cũng phải nộp trâu, bò để chuộc mạng theo thể lệ Lĩnh-nam. Nhưng y là quan Hán, thả ra thì dễ, lỡ ra y mang quân đến trả thù thì sao?

Chương 6: Vạn Dân Nô Lệ Cường Quyền Hạ

Vạn dân nô lệ cường quyền hạ

(Phan chu Trinh, Chí thành thông thánh)

nghĩa là :

Vạn dân phải cúi đầu làm nô lệ cho bọn cường quyền

Lên bờ, Ðào Kỳ nói với Tam Trinh:

– Cháu muốn thưa với lão bá một vài câu được không?

Tam Trinh nói:

– Tiểu công tử! Người là tri kỷ của ta thì người muốn nói gì cũng được. Ta chỉ yêu cầu ngươi một điều là đừng nói gì liên quan đến tên quan Hán mà thôi.

Ðào Kỳ định nói với Nguyễn Tam Trinh, xin ông tha cho Nghiêm Sơn. Nguyễn Tam Trinh biết trước, chặn họng nó lại. Nó liếc nhìn Nghiêm Sơn như phân trần với chàng điều đó.

Nghiêm Sơn tỏ vẻ khẳng khái:

– Tiểu sư đệ, ta cảm ơn ngươi đã có lòng tốt với ta. Song ta thấp trí bị người bắt, thì phải chịu. Còn bảo ta van xin đối thủ để được sống, thì không cần đâu. Kẻ sĩ chỉ có thể giết được, mà không thể để bị nhục.

Ðào Kỳ ấm ức trong lòng vì nó không được biện luận cho Nghiêm Sơn câu nào. Ðoàn người đi hơn một giờ tới một trang. Ðường cái nối liền với thôn trang là con lộ nhỏ, trồng dâm bụt, hoa nở đỏ chói, rồi tới cái cổng bằng tre, có hai cánh cửa rất lớn. Trang được bao bọc bằng những bụi tre vừa dầy, vừa cao. Ðứng ngoài đường không nhìn thấy nhà cửa bên trong. Hai tráng đinh gác cửa thấy Nguyễn Tam Trinh vội mở cổng, lễ phép cúi chào. Vào trong trang, Ðào Kỳ thấy nhiều nhà lớn san sát, nối nhau xa thăm thẳm. Trước mỗi ngôi nhà, có một đống rơm, hay đống rạ cao như những ngọn đồi nhỏ. Người thôn trang gặp Nguyễn Tam Trinh đều cúi đầu kính cẩn chào, rồi tránh sang bên đường nhường bước. Họ thấy Nguyễn Tam Trinh dẫn Nghiêm Sơn bị trói đi bên cạnh, cũng thản nhiên như không. Ði hơn nửa giờ, Ðào Kỳ thấy phía trước có một cổng nữa. Cổng này làm bằng tre, trên cổng dây thiên lý leo chằng chịt, hoa nở bốc hương thơm ngào ngạt. Nguyễn Tam Trinh chỉ ngôi nhà trong cổng giới thiệu với Ðào Kỳ:

– Ðó là chỗ ở của lão nhà quê này.

Ðào Kỳ liếc nhìn ngôi nhà: Dài năm gian, hai đầu hồi lại có ngôi nhà khác cũng dài bằng ngôi nhà ngang. Trước nhà trồng đủ thứ hoa, cắt tỉa thành những hình con hạc, con nai. Giữa sân là một cái hồ nhỏ, trong hồ trồng sen. Hoa sen giữa thu đã tàn úa. Mấy con ngỗng đang lội dưới ao, thấy người lạ, nghển cổ kêu lên mấy tiếng.

Trong nhà, một thanh niên khoảng 20 tuổi, bước đón Nguyễn Tam Trinh:

– Thưa bố đã về.

Thấy Nghiêm Sơn bị trói, thanh niên hỏi:

– Thằng Hán cẩu này bố bắt được ở đâu đây? Chúng là ai?

Tam Trinh đáp:

– Ta cũng không biết, nhưng võ công nó rất cao cường. Con giam giữ cho cẩn thận. Nhớ cho ăn tử tế, để ta hỏi cung sau. Còn tiểu công tử đây là tri kỷ của ta, con đưa công tử đi hơ quần áo cho khô. Con gọi Giao Chi ra đây.

Lát sau, một cô gái ẻo lả, xinh đẹp đi ra:

– Thưa bố gọi con?

Tam Trinh chỉ Thiều Hoa:

– Cô nương đây là người danh môn chính phái, con cần tiếp đãi cho cẩn thận. Con đưa cô nương vào hơ quần áo.

Ðào Kỳ đi theo thanh niên, nó gạ chuyện:

– Tiểu trang chủ, đại ca tên gì vậy?

Thanh niên đáp chậm chạp:

– Tôi là Tam Nhân, con trưởng trong nhà nên người ta gọi tôi là anh cả.

Tam Nhân dắt Nghiêm Sơn vào căn nhà phía sau. Y mở cửa. Bên trong có khoảng năm, sáu người bị cùm, hai chân xỏ vào một cái gông bằng gỗ. Hai tay xỏ vào chiếc gông khác.

Ðào Kỳ nhìn qua cũng biết họ là người Hán, nó tự nhủ:

– Nguyễn Tam Trinh quả lớn mật thực, bắt giam quan quân người Hán làm gì đây? Ta phải xem xét kỹ, để còn cứu Nghiêm đại ca ra mới được.

Sau khi cùm Nghiêm Sơn, Tam Nhân dẫn Ðào Kỳ vào bếp hơ quần áo. Y sai tỳ nữ mang bọc quần áo của nó ra phơi dùm. Xong y dẫn nó lên đại sảnh đường.

Ðại sảnh đường là một ngôi nhà tre, lợp rạ khá lớn. Các đồ trần thiết bên trong như bàn, ghế, giường, giá vũ khí đều bằng tre. Giữa nhà là chiếc bàn lớn, trên để nhạc cụ: Sáo, nhị, đàn bầu, trống cơm.

Ðào Kỳ khen:

– Lão bá, người thực là kỳ nhân đất Lĩnh Nam. Võ công tuyệt thế thì có người ngang lão bá, những thứ thanh nhã nhàn tản thế này, có lẽ lão bá là người đứng đầu.

Tam Trinh cười:

– Công tử quá khen.

Ðào Kỳ nói:

– Cháu còn nhỏ tuổi, có sao nói vậy, chứ không khách sáo đâu. Chỉ cần nhìn hàng dâm bụt từ đường vào, lối tỉa cắt cực kỳ công phu, trông rõ ràng là hình hai con rồng uốn khúc. Ðuôi ở trong, đầu ở ngoài, chầu ngược đầu vào trong trang. Trên cổng trang hai chữ Mai-động bằng mây quấn lại hun khói đen, không phải ít công phu mà hoàn thành được.

Một lát thêm bốn thanh niên cùng tới với Tam Nhân. Tam Trinh giới thiệu:

– Ðây là năm đứa con của lão phu, tên là Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín.

Ðào Kỳ đứng lên chắp tay hành lễ:

– Ðào Kỳ ở Cửu-chân xin ra mắt Mai-động ngũ hùng.

Thiều Hoa đã cùng Giao Chi tới sảnh đường.

Tam Trinh giới thiệu:

– Lão phu có năm con trai. Chúng đều nối nghiệp nhà làm ruộng, đánh cá và tập chút ít võ nghệ.

Tiểu đồng dâng nước, hoa quả. Ðĩa đựng trái cây bằng tre đan như hình một bông hoa năm cánh. Chén uống nước là ống tre cắt. Ðào Kỳ tiếp chén nước để lên môi nhắp. Nó thấy mùi vị thơm lạ lùng, thử ngẫm nghĩ xem là thứ nước gì? Nhưng đoán không ra. Nó muốn hỏi Tam Trinh thì lại ngập ngừng.

Tam Trinh giới thiệu với sáu người con:

– Các con! Từ ngày bố soạn ra hai khúc nhạc Cổ loa di hận và Trường-hận Trương Chi, đến nay mới có công tử đây là người đầu tiên hiểu được mà thôi. Ở đời tri âm được mấy người, chúng ta mời công tử cùng Hoàng cô nương ở lại đây ít ngày, uống trà, nghe nhạc chẳng thú lắm sao?

Ðào Kỳ biết Tam Trinh lờ vụ Nghiêm Sơn, muốn cho nó và Thiều Hoa nói trước, nhưng nó cương quyết không nhắc tới.

Gia bộc dọn bàn lên, trên bàn chỉ có hai thứ: Cá và thịt gà. Ðào Kỳ liếc qua: Cá nấu ám, cá rán, cá kho và thịt gà luộc. Mùi cá ám, cá rán thơm ngào ngạt. Tam Trinh cùng sáu con mời Ðào, Hoàng vào bàn ăn.

Ðào Kỳ hớp một muỗng nước cá ám, hỏi:

– Thưa lão bá, đây là loại cá gì, cháu chưa thấy qua?

Giao Chi nói:

– Tiểu công tử, đó là cá mè nấu ám với mẻ. Chắc vùng Cửu-chân không có cá mè nên công tử không biết.

Thiều Hoa nói:

– Chúng tôi sống ven bể quanh năm ăn cá bể. Tiểu sư đệ chưa được thấy cá mè bao giờ. Xin sư tỷ cho tiểu muội biết cách làm ám cá mè được không?

Tam Trinh nói:

– Ðược chứ! Ðược chứ! Có gì mà không được. Giao Chi, con nói cách làm ám cá mè cho Hoàng cô nương nghe đi!

Giao Chi chậm rãi nói:

– Hoàng cô nương! Ám cá mè là một món ăn thông thường của đất Giao-chỉ. Cá mè phải từ một năm tới một năm rưỡi mới ngon. Non quá thì nhiều xương, lại tanh, còn già quá thì thịt xác không thơm. Cá đánh vảy sạch đi, nhớ móc hai cái go ở trong mang ra. Go cá mè tanh lắm, để sót lại một chút là hỏng. Còn nấu ám mà vứt đầu cá đi thì lại không ngon. Ðể cá cho khô nước, rán sơ một chút, rồi cho vào nồi. Cứ một phần cá thì ba phần nước. Gia vị gồm có mẻ, mắm tôm. Một con cá mè như vậy thì một miếng mắm tôm bằng ngón chân cái là được. Mắm tôm nhớ đánh cho tan ra rồi hãy đổ vào nồi. Mẻ thì nhiều hơn, gấp ba lần mắm tôm, cho mẻ vào cái rá, đồ lấy hết nước cốt, xác vứt đi. Còn rau nấu với cá là chuối, hoặc chuối non, hoặc bắp chuối hoặc củ chuối non. Nếu là chuối non, thì tước vỏ xanh bên ngoài đi, thái cho mỏng. Củ chuối thì thái mỏng, rồi thái nhỏ ra như những cọng tăm. Bắp chuối thì thái nhỏ như sợi tóc. Dù quả, bắp, củ chuối cũng phải cho vào ngâm với muối khoảng nửa ngày, để cho nước chát thôi ra. Ðổ chuối vào đun với cá, đợi khoảng nửa giờ, thì nhừ. Trước khi bắt ra ăn phải cho rau thơm như thì-là, hay là xương xông thái nhỏ. Cá mè là thứ cá âm hàn, tanh, nên cần có mẻ để chống lại chất độc.

Giao Chi nói đến đâu, Thiều Hoa, Ðào Kỳ nuốt nước miếng đến đó.

Thiều Hoa hỏi:

– Nguyễn cô nương, thế tại sao thịt gà luộc lại phải ăn với lá chanh?

Giao Chi nói:

– Thịt gà luộc khó làm hơn cá mè.

Ðào Kỳ chưa từng vào bếp bao giờ, nghe Giao Chi nói cách làm ám cá mè đã khó, mà lại bảo làm món thịt gà luộc lại khó hơn, nó không chịu:

– Tỷ tỷ, tôi tưởng luộc thịt gà thì có gì rắc rối đâu mà bảo rằng khó hơn nấu ám cá mè?

Giao Chi cười tủm tỉm:

– Công tử nhìn đĩa thịt gà đây: Da gà vàng bóng, không rách lấy một tí. Xương gà bên trong còn lòng đào. Làm thế nào để được như vậy?

Thiều Hoa gật đầu:

– Quả là khó.

Giao Chi tiếp:

– Giết gà rồi, nấu nước để làm lông. Khi vặt lông, thì vặt từng túm nhỏ, đừng vặt cả túm lớn, làm rách da. Khi luộc thì nước phải xấp xỉ, vừa ngập gà là đủ rồi. Trước khi luộc cho vào mấy hạt muối, để da gà se lại. Ðợi nước sôi khoảng nhai dập miếng trầu thì tắt lửa. Cái này khó đây, phải tính sao cho gà vừa chín. Luộc kỹ quá thì da gà nát hết. Luộc sống thì ăn không ngon. Gà chín phải vớt ra ngay. Ðể nguội hãy chặt. Chặt thịt gà phải dùng dao sắc, đầu tiên chặt làm đôi, rồi sau chia thân gà làm từng ô một mà chặt. Chặt cần cho nhát dao cắt ngon, nếu phải hai nhát, thịt sẽ vỡ hết. Thịt gà cần ăn với lá chanh, mới có mùi vị thơm. Thịt gà ăn vào hay sinh phong, cho nên cần ăn với lá chanh vừa thơm, vừa chống phong ngứa. Ðất Giao-chỉ có câu ca như thế này:

Con gà cục tác lá chanh

Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi.

Con chó khóc đứng, khóc ngồi,

Bà ơi đi chợ mua tôi đồng riềng.

Ðó là bài ca bông đùa, nhưng nói lên rằng: Thịt gà cần ăn với lá chanh. Thịt lợn cần có hành mới thơm. Còn riềng là gia vị trọng yếu để ăn thịt chó.

Ăn xong, chủ nhà mời khách ăn tráng miệng với chuối tiêu.

Trăng đã lên cao ở phía đông. Tam Trinh đứng lên:

– Lão phu còn mấy khúc nhạc nhờ Ðào tiểu công tử phẩm bình dùm.

Ông ngoắt tay, thì sáu người con, mỗi người ôm một thứ nhạc khí ra. Tam Nhân ôm cái trống cơm, Tam Nghĩa ôm cây đàn nhị. Tam Lễ ôm cây đàn bầu, Tam Trí ôm ống tiêu, Tam Tín ôm cặp sênh. Giao Chi cầm cặp phách.

Tam Trinh đánh nhịp một cái, cả năm thứ nhạc cụ đều tấu một lượt. Tiếng sên lanh lảnh, tiếng trống bập bùng, tiếng nhị dài dằng dặt, tiếng tiêu véo von, tiếng phách gọn gàng, tiếng đàn bầu trầm ấm. Tấu một lúc rồi ngừng lại.

Tam Trinh hỏi:

– Ðào tiểu công tử, xin công tử phẩm bình cho!

– Khúc nhạc này dài quá nhỉ! Có lúc như tiếng sóng vỗ, có lúc như gió vờn qua mặt nước, có lúc dồn dập như trời mưa, lại có lúc lên cao như trăng rằm, rồi nhẹ nhàng như mối tình nhu thuận. Âm điệu tao nhã, thảnh thót cao kỳ. Dường như lão bá dùng để tế lễ các bực tổ tông thì phải.

Cả sáu người con đều oà lên một tiếng, gật gật đầu.

Tam Trinh nói:

– Ðúng, đây là khúc Ðộng-đình ca. Khúc này chúng tôi dùng để tế quốc tổ. Khúc hát diễn tả ngày xưa Lạc-Long quân đến hồ Ðộng-đình cầu hôn với quốc mẫu Âu-Cơ. Người nghe mà hiểu được sóng vỗ, gió vờn, đượm nhu tình. Ðào tiểu công tử! Người là đệ nhất tri kỷ của ta. Hôm nay bèo mây gặp đây, hậu hội hữu kỳ. Ðã là tri kỷ, ta sẽ tiễn người đi. Khi nào có dịp, xin ghé tệ trang, ta lúc nào cũng chờ đón người. Còn tên quan Hán thì không thể cùng đi với công tử được. Nó là ai vậy?

Thiều Hoa nói:

– Lão bá, y là người Hán, nhưng y không phải là người tàn ác. Y là người võ lâm hiệp sĩ… Y đã giúp đỡ tiểu nữ trong nhiều lần hoạn nạn. Xin lão bá rộng dung cho tính mạng của y.

Tam Trinh nói:

– Ðược, ta phải hỏi cung nó đã. Nhân con, mang nó lên đây.

Lát sau Nghiêm Sơn bị dẫn lên đại sảnh.

Chàng hiên ngang nói:

– Ta đã đối chưởng với người, thấy rõ ràng ngươi là một đại tôn sư võ học của Giao-chỉ. Tại sao ngươi lại dùng thủ đoạn hèn hạ, dìm ta dưới nước để bắt? Ta không phục.

Tam Trí nói:

– Thế thì trước kia, người Hán các ngươi dùng Trọng Thuỷ ăn cắp Âu-lạc tam bảo, rồi lợi dụng tình yêu của Mÿ Châu để chiếm nước ta thì anh hùng hơn chăng?

Nghiêm Sơn nói:

– Triệu Ðà, Trọng Thủy là những đứa hèn hạ, võ nghệ tầm thường, chỉ biết có phú quý. Chưa từng làm người nghĩa hiệp. Ngươi không thể coi tất cả người Hán đều là Triệu Ðà, Trọng Thuỷ. Cũng như ta không thể coi các ngươi như bọn Phong-châu song quái.

Tam Nghĩa nói:

– Nói như vậy là các hạ là người hiệp sĩ giang hồ đấy! Ðã là hiệp sĩ giang hồ sao lại sang đất Âu-lạc chúng ta để cướp bóc, giết người tàn bạo?

Nghiêm Sơn cười gằn:

– Ta đến Âu-lạc gần một năm, chưa từng giết một người Việt, chưa từng cướp của ai một hột gạo. Thanh kiếm của ta đã từng nhuộm trước sau trên 30 tên Hán tàn bạo. Ha… ha… như vậy không đủ sao?

Tam Trinh nhìn Ðào Kỳ hội ý.

Ðào Kỳ quỳ xuống trước mặt Tam Trinh:

– Chúng cháu tội đáng chết, xin lão bá ân xá.

Tam Trinh nâng Ðào Kỳ dậy, rồi hỏi:

– Tiểu công tử có gì cứ nói.

Ðào Kỳ thưa:

– Thưa lão bá, cháu chính là con út của Ðào lạc hầu đất Cửu-chân. Sư tỷ cháu là tam đệ tử của bố cháu.

Rồi nó kể lại tất cả mọi biến cố cho Tam Trinh nghe. Nhưng nó chỉ nói phớt qua Nghiêm Sơn là một chức võ quan tầm thường cấp lữ trưởng, và dấu tên chàng.

Tam Trinh nói với Nghiêm Sơn:

– Lòng người nham hiểm, khó lường. Thôi được, ngươi đã cứu Ðào Kỳ, Thiều Hoa, thì ta thả ngươi ra. Nếu ngươi muốn mang quân Hán đến đây đánh ta, thì ta cũng không sợ đâu. Tam Tín, con thả y ra.

Tam Tín cởi trói cho Nghiêm Sơn, mang hành lý và ngựa ra trả.

Tam Trinh vẫy tay:

– Thôi ngươi cứ đi đi. Người Việt chúng ta quang minh, lỗi lạc. Ngươi cứu Thiều Hoa, Ðào Kỳ thì ta thả ngươi, thế là hòa.

Nghiêm Sơn nhìn Thiều Hoa muốn nói gì, nhưng lại thôi. Y lên ngựa ra đi.

Tam Nghĩa nói:

– Ta dẫn đường cho ngươi tới huyện đường Long-biên.

Nói rồi y lên ngựa đi cùng Nghiêm Sơn.

Ðợi Nghiêm Sơn đi khỏi rồi, Tam Trinh mới nói:

– Các cháu còn trẻ người, thiếu kinh nghiệm. Không lẽ chỉ một vài hành động như thế, các cháu đã tin họ tốt bụng ư? Muôn đời người Hán vẫn là người Hán, họ chẳng tử tế gì với mình đâu. Gã này là một đại quan người Hán. Hắn có giết quan lại tham ô người Hán là để thay vua Hán, xử tội kẻ dưới mà thôi. Biết đâu hắn chẳng lợi dụng các cháu để hiểu biết hết nội tình người Việt chúng ta? Ta thả hắn ra, rồi theo dõi, nếu hắn dẫn quân Hán tới đây, chúng ta quyết đánh một trận rồi bỏ ấp này ra đi. Còn hắn không trở lại, thì hắn quả là người tốt như cháu nói.

Thiều Hoa nói:

– Trước trận đánh, sư phụ cháu có nói rằng sau này dù thắng dù bại, ai sống sót đều tụ về Cổ-loa. Từ đây đến Cổ-loa không xa, lão bá có được tin tức gì của sư phụ cháu không?

Tam Trinh nói:

– Ta đã cho người về Cổ-loa dọ thám, nhưng tuyệt không thấy tin tức gì cả. Không một người Ðào trang, Ðinh trang về tới nơi. Hà… không biết hiện giờ họ ở đâu?

Tự nhiên Tam Trinh ôm ngực nhăn nhó.

Tam Nhân hỏi:

– Bố, bố, sao vậy?

Tam Trinh xua tay tỏ dấu im lặng. Ngồi xếp bằng, nhắm mắt vận khí, lát sau ông khạc ra một búng máu tươi, mặt hồng hào lên:

– Tên quan Hán võ công thực cao thâm. Bình thường giao đấu, ta không phải đối thủ của hắn. Lúc nãy trên thuyền, ta quen thuỷ tính, mà đấu với nó hai chưởng, còn cảm thấy thua sút. Từ bấy giờ đến bây giờ, trong ngực còn ngấm ngầm đau.

Ðào Kỳ nói:

– Lão bá có biết Phong-châu song quái không? Nhị quái võ công như thế mà còn thua y đấy.

Tam Trinh nói:

– Ta nghe đồn trong hàng ngũ quan lại người Hán có Nghiêm Sơn nổi tiếng là Quế-lâm thần kiếm, cùng với Hợp-phố lục hiệp là những người Hán nổi danh nghĩa hiệp. Họ sang Lĩnh-nam làm quan, nhưng khác hẳn với bọn tham ô, chỉ biết vơ vét. Họ thường ra tay nghĩa hiệp giúp dân. Võ công họ cực cao. Không biết tên quan Hán này có liên quan gì đến Nghiêm Sơn với Hợp-phố lục hiệp không?

Thiều Hoa liếc nhìn Ðào Kỳ không nói gì.

Bỗng Nguyễn Tam Trinh hỏi Ðào Kỳ:

– Cháu có mang theo cây đồng côn tám cạnh. Ai đã cho cháu cây côn đó? Cháu có thể kể cho ta nghe được chăng?

Ðào Kỳ thuật lại tỉ mỉ tất cả những biến cố tại đền thờ Cao Nỗ cho ông nghe. Kỳ là con út một danh gia, cha nó Ðào lạc hầu là người nổi tiếng về đạo đức, ông dạy con rất cẩn thận. Nó lại là đứa trể thông minh, học văn, học võ đều thành, do vậy nó rất nể trọng những người đạo đức. Giữa lúc trên đường lưu lạc vì nhà tan cửa nát, nó được gặp Nguyễn Tam Trinh. Hàng ngày, cha, cậu nó khi đề cập đến võ lâm, thường ca tụng không hết lời tám vị Thái-bảo phái Sài-sơn, có đời sống ẩn dật như tiên. Khi hành sự với đời, thường lấy đạo lý làm căn bản. Cho nên nói chuyện với Nguyễn Tam Trinh, nó thấy ở ông toả ra nét hào hùng, đạo đức tuyệt vời, khiến nó kính trọng, và kể sự thực, không dấu diếm gì.

Sau khi kể xong, nó hỏi:

– Lão bá! Xin lão bá chỉ rõ cho cháu về cây gậy này. Khi Phong-châu song quái bắt cháu đi thì bắt cả cây côn theo. Cháu định sau này có dịp đem lại đền Cao-cảnh hầu trả lại.

Tam Trinh gật đầu:

– Cây đồng côn này ngày xưa của Phù-đổng Thiên-vương đánh giặc Ân. Các vị vua Hùng giữ làm quốc bảo. Sau Sơn Tinh được làm phò mã, thì ngài truyền cho ông. Thời An-Dương vương lấy nước Văn-lang, cây đồng côn đó về Vạn-tín hầu Lý Thân. Lý Thân truyền cho Cao Nỗ. Vì có duyên với cây côn, nên Song-quái bắt cháu thì bắt, nhưng sao lại mang cả côn theo… Rõ ràng là cháu có phúc phận hưởng thì di vật tiền nhân mới về tay cháu. Ta tin rằng cây đồng côn này sẽ giúp cháu nhiều, cháu chớ để mất.

Thiều Hoa hỏi:

– Thưa bác cháu nghe nói: Phù-đổng Thiên-vương là một đứa trẻ tám tuổi, chưa biết nói. Một hôm có sứ vua đi tìm người đánh giặc Ân, tự nhiên nói được, xin mẹ mời sứ vào. Ngài tình nguyện đánh giặc. Ngài bảo sứ về tâu với vua, làm một con ngựa sắt, một cây gậy sắt, đem đến. Ngài lại xin thổi thực nhiều cơm, ăn xong, vươn vai một cái lớn gấp đôi người thường. Ngài vỗ bờm, ngựa sắt phun lửa, phi như bay. Sau khi giết hết giặc, ngài lên núi Sài-sơn rồi biến mất. Cháu tưởng đó là chuyện hoang đường, không ngờ là thực sao?

Tam Trinh giảng:

– Không phải như vậy đâu. Phù-đổng Thiên-vương là một võ sư đương thời. Ngài luyện võ, nên gần như không nói với ai, người đời đùa rằng ngài câm. Năm 24 tuổi, ngài ứng lời gọi của vua đi đánh giặc Ân. Hết giặc ngài lên núi Sài-sơn ẩn thân tiêu dao mây nước, tập võ. Ngài chế ra phép đánh trượng, sau Trung-tín hầu Vũ Bảo Trung thêm vào thành Thục gia trượng pháp, mà giòng họ Ðào cháu còn lưu truyền. Ngài còn chế nhiều pho quyền cước, đao, kiếm lưu truyền đến ngày nay. Sau khi ngài quy tiên, thì đệ tử đời đời lưu truyền thành phái Sài-sơn. Ta chính là hậu duệ của ngài. Phái Sài-sơn của ta, võ nghệ không bằng phái Tản-viên, Long-biên và Cửu-chân nhà cháu, vì chúng ta phải học nhiều thứ: Cưỡi ngựa, trồng cây, âm nhạc. Sở dĩ chúng ta được người đời biết đến, vì theo chủ trương của Thiên-vương, tiêu dao tự tại, lấy trời đất, mây nước vui hạc nội mây ngàn, không thích công danh. Giúp đời mà không cần đòi báo đáp.

Khi An-dương vương thắng Hùng-vương, Vạn-tín hầu Lý Thân, Cao-cảnh hầu Cao Nỗ, Trung-tín hầu Vũ Bảo Trung bắt được cuốn phổ chép tất cả võ công của Phù-đổng Thiên vương và phò mã Sơn Tinh. Nhưng các ngài tự cao là người thắng trận, không chịu tập võ nghệ của kẻ bại trận. Vạn-tín hầu Lý Thân lấy tất cả võ công của Sơn Tinh đem nghiên cứu, tìm ra những chiêu thức phá các chiêu thức đó. Như Phục-ngưu thần chưởng có 36 thức Dương cương, ngài chế ra 36 thức Âm nhu, để chống lại. Như thức Dương cương tên là Ngưu thực ư dã, ngài vẫn để nguyên tên như vậy, thành ra một thức chưởng có hai lối phát chiêu khắc chế nhau, mang cùng một tên. Người nào luyện được cả Âm lẫn Dương thì chiêu trước phát theo Dương cương, chiêu sau phát theo Âm nhu. Người nào nội công cao cường thì tay phải phát Dương cương, tay trái phát Âm nhu.

Ðào Kỳ như bước vào thế giới mới lạ về võ thuật, nó hỏi:

– Nếu như có người nào tay phải phát chiêu Dương cương, tay trái phát chiêu Âm nhu, nhưng hai chiêu khác tên, thì người đó phải là anh hùng vô địch.

Nguyễn Tam Trinh nói:

– Vạn-tín hầu Lý Thân đã làm được điều đó. Khi ngài đấu với những võ tướng bật nhất của Tần Thuỷ Hoàng, ngài thắng họ nhờ lối phát chưởng này.

Thiều Hoa hỏi:

– Thưa lão bá, nếu bây giờ có ai tay trái phát Dương cương, tay phải phát Âm nhu, rồi thình lình tay trái phát Âm nhu, tay phải phát Dương cương thì Âm, Dưong biến hoá sẽ thành thế gian vô địch.

Nguyễn Tam Trinh thở dài:

– Ta nghe đồn rằng học trò của Ðào-hầu, người nào cũng xuất chúng. Nghe cháu hỏi, ta mới thấy thẹn rằng chưa bao giờ mình nghĩ đến. Ta biết trên đời này chưa có ai làm được điều đó. Hy vọng sau này, hậu thế có người tài trí hơn, tìm ra cũng nên.

Ðào Kỳ nói:

– Thưa bác, bố cháu thường nhắc tới các phái Sài-sơn, Tản-viên, Hoa-lư, Cửu-chân và Long-biên. Ngoài ra còn nhiều Lạc-hầu, Lạc-tướng cũng định lập một phương như môn phái. Cháu không hiểu nguồn gốc các phái ấy như thế nào? Võ công của họ khác nhau ra sao?

Tam Trinh đáp:

– Nói về nguồn gốc các phái võ của người Việt thì rất giản dị. Khởi thuỷ không có môn phái nào cả. Sau khi Phù-đổng Thiên-vương đánh giặc Ân rồi, ngài lên Sài-sơn ẩn dật, dạy dỗ đệ tử. Ðời này truyền đời khác, đến nay vẫn còn lưu giữ tên Sài-sơn. Võ của ngài thiên về Dương cương, sở trường về đánh roi, đánh gậy. Tuy nhiên các môn võ công khác cũng có. Ðến khi vua Hùng ra lệnh mở võ đài tuyển người võ giỏi nhất làm phò mã, thì Hoá Ðức tức Sơn Tinh thắng khắp anh hùng thiên hạ mà được diễm phúc. Từ đấy Sơn Tinh mở trường dạy học ở núi Tản-viên mà thành phái Tản-viên. Khi An-Dương vương thắng Hùng-vương, các Lạc-hầu, Lạc-tướng phiêu bạt khắp nơi, mạnh ai nấy lập môn hộ, nên có nhiều phái. Nhưng các Lạc-hầu, Lạc-tướng nguyên đều xuất thân ở Sài-sơn, võ công có hơi giống nhau. Các ngài mới hội nhau lại thống nhất kỹ thuật. Rút cuộc còn hai phái trên. Khi An-Dương vương tự vận ở Cửu-chân, các tướng sĩ theo hộ giá có ba nguồn gốc: Vạn-tín hầu Lý Thân, Cao-cảnh hầu Cao Nỗ, Trung-tín hầu Vũ Bảo Trung. Các tướng được An-Dương vương dặn dò ẩn náu, nuôi chí đợi thời phục quốc. Họ thu đệ tử, truyền võ, do vậy truyền nhân của Cao-cảnh hầu là phái Hoa-lư. Truyền nhân của Vạn-tín hầu Lý Thân là phái Long-biên. Truyền nhân của Trung-tín hầu là phái Cửu-chân. Âu-lạc thắng Văn-lang, nên phái Sài-sơn, Tản-viên chống lại Âu-lạc. Ðến khi Triệu Ðà chiếm Âu-lạc, thì các truyền nhân của Văn-lang, như Tản-viên, Sài-sơn họp với các phái của Âu-lạc là Long-biên, Cửu– chân, Hoa-lư chống Triệu. Triệu bị giết, con cháu họ lập phái Quế-lâm. Ngày nay các võ phái Văn-lang, Quế– lâm cùng chung hận vong quốc, họp nhau lại thành võ học Lĩnh-nam chống Hán phục Việt…

Ðào Kỳ than:

– Võ phái hiện có sáu, còn các gia, các phái cũng không ít, ai cũng xưng hùng, xưng bá hết. Theo ý lão bá thì phái nào võ công cao nhất?

Tam Trinh lắc đầu:

– Khó có thể quyết định được. Võ công Tản-viên thì thiên về Dương cương, võ công Sài-sơn thì khi nhu khi cương. Võ công Long-biên thì nhu hoàn toàn. Võ công Cửu-chân, Hoa-lư thì dương cương thuần tuý.

Ðào Kỳ reo lên:

– Cháu hiểu rồi. Như vậy nếu tập trong vòng ba năm đến năm năm thì người đệ tử Âu-lạc ta dễ thành công hơn người của Văn-lang. Còn tập từ năm năm trở đi, thì võ công Văn-lang sẽ hơn Âu-lạc.

Tam Trinh gật đầu:

– Ðúng như vậy.

Tam Lễ hỏi:

– Ðào tiểu sư đệ, ta không hiểu nguyên lý đó.

Ðào Kỳ nói:

– Thế này nhé, nếu một đệ tử tập võ trong vòng ba đến năm năm thì có thể học hết các chiêu thức của môn hộ. Nếu họ học võ công Âu-lạc thiên về lấy nhanh thắng chậm thì họ thắng được đệ tử Văn-lang. Nhưng sau đó nếu họ tập thêm từ bảy năm trở đi, thì không còn tập chiêu thức nữa mà chỉ luyện nội công, vậy công lực ai mạnh thì người đó thắng. Các cao nhân chỉ đấu với nhau một hai chiêu là đã biết được ai thắng, ai bại rồi. Mà võ công của Văn-lang thiên về dương cương, thì đánh chậm mới phát huy được hết sức mạnh, nên họ thắng.

Tam Trinh tiếp:

– Sáu đại môn phái cứ năm năm họp nhau một lần để trao đổi kinh nghiệm. Nói là trao đổi, chứ thực sự là để đấu với nhau, tranh giành danh tiếng để xem phái nào vô địch thiên hạ. Lần đấu cuối cùng là năm ngoái, họp nhau ở núi Ngũ-lĩnh, võ công đệ nhất về phái Tản-viên, đệ nhị về phái Long-biên, còn đệ tam thuộc về phái Cửu-chân nhà cháu.

Thiều Hoa nói:

– Dường như thể thức đấu, không đơn đấu mà song đấu thì phải?

Tam Trinh lắc đầu:

– Không hẳn thế, cứ một lần song đấu, một lần đơn đấu. Lần cuối cùng là song đấu. Hai người của phái Tản-viên là Nguyễn Thành Công và Ðặng Thi Kế quả thực là anh hùng, đánh thắng năm môn phái đoạt chức thiên hạ võ công đệ nhất. Phái Long-biên thì Nguyễn Trát và Phan Ðông Bảng đoạt đệ nhị võ công thiên hạ, về đệ tam thuộc phái Cửu-chân thuộc Cửu-chân song kiệt là sư phụ, sư thúc cháu.

Ðào Kỳ gật đầu:

– Bố và cậu cháu thường khâm phục tám vị Thái-bảo phái Sài-sơn, mà không phục các vị cao nhân của những phái kia, vì cho rằng đạo đức mới đáng khâm phục.

Tam Trinh nói:

– Ðúng đó, sau khi đoạt Lĩnh Nam võ công đệ nhất, thì phái Tản-viên xảy ra biến cố, đệ tử của Nguyễn Thành Công là Phong-châu song quái phản sư môn, gây không biết bao nhiêu tai vạ cho giang hồ. Nguyễn tiên sinh bỏ đi mất tích. Còn Ðặng Thi Kế thì truyền chức chưởng môn cho Thi Sách rồi quy ẩn. Thi Sách tuy là người hùng tâm, có chí khí anh hùng, nhưng võ công lại không hơn Song-quái. Phái Quế-lâm thường không được chúng ta coi là người Việt, nên họ hợp tác với người Hán, trong giới quan lại Giao-chỉ có nhiều người thuộc phái này. Nghiêm Sơn là một trong những người của phái Quế -lâm đó. Sự thực thì thái thú Cửu-chân là Nhâm Diên, thái thú Giao-chỉ là Tích Quang vốn là người đọc sách, gian hùng xảo trá, một mặt họ đem lễ nghĩa người Hán dạy cho Man di để muốn đồng hoá chúng ta với họ, nhưng dưới lớp áo đạo đức. Vì vậy có nhiều người của sáu môn phái ra làm tay sai cho họ. Chỉ có phái Hoa-lư là còn nguyên chí khí, còn phái Cửu-chân, có chín nhà thì hết năm nhà theo chúng làm quan, hai nhà thân thiện với chúng, chỉ có hai nhà Ðào, Ðinh không theo, bị chúng đánh phá.

Thiều Hoa thở dài:

– Phái Long-biên có ai theo Hán không?

Tam Trinh gật đầu:

– Trong năm đại môn phái của người Việt thì phái Long-biên có mầm mống chia rẽ đáng sợ nhất. Cách đây mấy năm, chưởng môn Nguyễn Phan tự nhiên mất tích. Năm người đệ tử của ông không ai phục ai, cũng tranh giành chức chưởng môn. Cuối cùng đi đến đấu võ giải quyết. Nguyễn Thuật thắng sư huynh, sư đệ lên làm chưởng môn., sư huynh là Lê Nghĩa Nam, sư đệ là Hoàng Ðức Tiết, sư muội là Mai Huyền Sương bỏ ra đi, theo người Hán. Nguyễn Thuật làm chưởng môn được mấy năm thì chết, con của ông là Nguyễn Trát lên kế vị. Cái đại hoạ trước mắt là nếu sư bá, sư thúc của ông trở lại giành chức chưởng môn, thì ông không phải là đối thủ của họ.

Ðào Kỳ nhớ lại lời bố dạy hôm ông dẫn nó lên đền thờ An Dương vương chơi, rằng người Việt hiện đông gấp mấy người Hán, mà chịu để người Hán cai trị, vì người Việt không đoàn kết được với nhau. Nếu nhất tề nổi lên, cứ 100 người Việt, đánh một người Hán, thì chỉ trong sớm tối, đất nước này sẽ sạch bóng quân thù. Ðào trang sở dĩ bị đánh phá vì có đến bảy trang không đi cùng đường. Tuy nhiên nó cũng còn tự an ủi rằng, ngoài Cửu-chân ra, thì các đại tôn sư của hầu hết môn phái đều vẫn vẫn nuôi chí phản Hán phục Việt như Ðào trang.

Nó nói với Tam Trinh:

– Vì bị người Hán mua chuộc, xen vào gây mâu thuẫn nên các phái đều có nạn chia rẽ. Duy chỉ có phái Sài-sơn là hoàn toàn đạo đức, nghĩa hiệp. Võ công cao mà chi? Ðạo đức là hơn hết. Ngày mai chúng cháu đi Cổ-loa, xin lão bá ban cho ít lời dạy bảo.

Tam Trinh nghĩ một lát rồi nói:

– Ðược, ngày mai ta sẽ cho Tam Tín, Giao Chi đi cùng với hai cháu. Nhất thiết khi đi đường, các cháu không được lên tiếng, vì các cháu nói tiếng đàng trong nặng lắm, lên tiếng người ta chú ý thì khó khăn vô cùng.

Ðào Kỳ thưa:

– Bố cháu nói, người chú của cháu là Ðào Thế Hùng, cách đây bảy năm ra lập nghiệp ở Cổ-loa, nên trước trận đánh cảng Bắc xảy ra, bố cháu dặn chúng cháu rằng nếu bị lạc nhau thì tụ tập về đấy. Cổ-loa với Mai-động không xa, chắc lão bá có nghe biết về chú của cháu?

Tam Trinh lắc đầu:

– Anh hùng khắp vùng này, ai mà ta không biết. Ta chưa từng nghe nói đến một người họ Ðào nào cả. Có lẽ chú của cháu đã đổi tên, đổi họ đi chăng?

Sáng hôm sau anh em Tam Tín, Giao Chi cùng Thiều Hoa, Ðào Kỳ lên đường sớm. Huyện lÿ Long-biên là trung tâm điểm của đất Giao-chỉ, dân cư đông đúc, phố xá nhộn nhịp, ngựa xe tấp nập. Ðào Kỳ tính còn trẻ con, ngây người ra nhìn. Buổi trưa, cả bọn người dừng lại chợ Long-biên ăn quà. Ðào Kỳ thấy bún chả ăn với rau muống chẻ thơm ngon, nó ăn ba bát, bụng căng ra mà miệng vẫn còn muốn ăn.

Giao Chi nói nhỏ:

– Chúng ta đi Cổ-loa trở về, chị sẽ làm cho em ăn một bữa no đến vỡ bụng thì thôi. Bún chả họ làm ở đây không ngon bằng mình làm.

Ðào Kỳ biết Giao Chi là người có tài nấu nướng, mấy ngày ở Mai-động nó được ăn đủ các thứ miền Bắc. Những món Giao Chi cho nó ăn toàn là món thông thường của địa phương, chỉ nhờ vào hoa tay của nàng mà trở thành ngon. Nó tán đồng:

– Em mà ở với chị một năm, thì em sẽ lớn gấp hai ngay.

Tự nhiên chợ nhốn nháo, vì một đội quân Hán đang đi qua. Người nào không tránh kịp là chúng dùng roi quất vào đầu túi bụi. Bọn quân Hán dẫn sáu người Việt bị trói, người nào mình cũng đầy máu me. Trong toán có đứa bé gái tám tuổi, mặt trông rất khả ái, cũng bị điệu đi khóc lóc thảm thiết. Người đàn bà đi sau cùng, vấp vào mô đất giữa đường, nàng ngã chúi về trước, tên quân Hán lấy roi quất túi bụi vào người nàng. Người đàn bà khốn nạn đau đớn lăn lộn dưới đất kêu la, ai nghe thấy cũng mũi lòng. Nhưng tên quân Hán vẫn quất roi liên tiếp.

Ðứa bé gái nằm úp sấp lên người đàn bà, dùng lưng chịu những roi đòn cho mẹ. Tên quân Hán càng ra roi mạnh hơn. Ðứa bé đau quá hoá cộc. Nó nhảy phắt dậy, túm cánh tay tên quân Hán cắn mạnh. Tên quân Hán đau quá, buông roi, tát mạnh vào mặt đứa bé. Ðứa bé ngã lăn ra đất. Cánh tay tên quân Hán bị nó cắn đứt một miếng thịt, máu chảy ròng ròng. Tên quân Hán rút đao trên lưng nhắm đứa bé đâm một nhát. Người mẹ thấy con sắp chết, nhảy lên đưa ngực đỡ đao cho con. Lưỡi đao cắm ngập vào ngực nàng. Tên quân Hán rút đao ra, ngực nàng phun máu loang đầy đất.

Tên quân Hán đang hăng máu, vùng đao chặt đầu đứa bé. Mọi người đều rú lên kinh hoàng.

Ðào Kỳ giận run lẩy bẩy, không chịu được nữa. Nó rút kiếm phóng ra đỡ thanh đao của tên lính Hán đến choang một cái. Thanh đao rớt xuống đất. Thuận tay Ðào Kỳ cắt dây cởi trói cho bé gái. Ðứa bé ôm lấy mẹ la lớn:

– Mẹ ơi! Mẹ chết thực à?

Ðào Kỳ khoa kiếm mấy vòng, đẩy lui đám Hán quân, rồi cắt đứt dây trói cho tất cả mấy người. Nó hô lớn:

– Chạy mau đi!

Ðám quân Hán đã rút vũ khí ra vây lấy Ðào Kỳ. Ðào Kỳ khoa kiếm cứ mỗi chiêu, một tên chết. Tên Ngũ trưởng, thấy bên mình chết hết, y la lớn lên rồi phi ngựa trốn. Dân chúng thấy vậy bỏ chạy tứ tán.

Nguyễn Tam Tín nói:

– Ðệ đệ ơi, em đã gây tai hoạ như vậy, phải chạy mau đi mới thoát, không thì quân Hán kéo ra bây giờ, chúng ta chết hết.

Ðào Kỳ bồng bé gái để lên ngựa, rồi cả bốn phóng đi. Khi đã chạy xa khỏi thị trấn, Ðào Kỳ ngừng lại, xem xét đứa bé thấy chỉ bị thương nhẹ, không có gì đáng lo.

Thiều Hoa hỏi nhỏ:

– Em tên gì?

Ðứa bé nói:

– Em không có tên, vì em thích mặc đồ tím nên người ta gọi em là bé Tiá.

– Tại sao bọn Hán lại bắt em?

Tía khóc nức nở:

– Quan huyện uý thấy mẹ em xinh đẹp, ra lệnh cho chúng bắt về huyện để hầu hạ. Bố mẹ em không chịu, kháng cự lại, chúng kéo đến thực đông, đốt nhà, giết bố em, bắt mẹ em, bắt cả em và mấy người hàng xóm.

Nói rồi nó khóc thảm thiết.

Ðào Kỳ đề nghị:

– Chị Giao Chi à! Tía hiện tứ cố vô thân, chị đưa Tía về nhà trước, để hai bác trông coi nó. Còn anh Tín đi với chúng em được rồi.

Giao Chi bế Tiá lên ngựa phi đi. Còn lại ba người tiếp tục lên đường. Ðang đi thì gặp một toán quân Hán đi ngược chiều, ước khoảng 50 người, phía sau có tiếng ngựa hí, quân reo.

Thiều Hoa hỏi:

– Trước có giặc, sau có giặc, chạy đâu bây giờ?

Kỳ khẳng khái:

– Chúng ta quyết chiến rồi tìm đường tẩu thoát. Em là trẻ con không đáng sợ, còn anh Tín và sư tỷ phải trốn cho lẹ.

Tam Tín quát lên:

– Ta nhất sinh là Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Há để cho đệ đệ phải chết một mình sao? Ta ở lại với đệ.

Ðám Hán quân đến, có cả mấy tên bị đánh đuổi hồi nãy, chúng hô lớn:

– Bọn man cẩu kia, chịu trói đi.

Ðào Kỳ cười ha hả đứng im:

– Các người cứ tiến đến mà bắt.

Bọn Hán ỷ đông kéo tới. Ánh thép lấp loáng hai tên Ngũ trưởng đi đầu trúng kiếm vào ngực, ngã lăn xuống đất.

Ðào Kỳ reo lên:

– Sư tỷ, kiếm thuật sư tỷ nhanh quá.

Quân Hán reo hò, bao vây xung quanh, không dám tiến lại gần.

Ðào Kỳ chỉ con sông nhỏ cách đó không xa:

– Chúng ta chạy ra đó.

Nói rồi phóng ba kiếm liền, bọn quân Hán dãn ra, ba người chạy về phía bờ sông.

Ðào Kỳ hô:

– Nhảy xuống sông, lội sang bên kia.

Thiều Hoa, Tam Tín nhảy xuống nước rồi. Ðào Kỳ định nhảy theo, thì một ánh đao loáng bay đến. Nó vội rút kiếm đỡ, choảng một tiếng, tay nó tê dại, đau nhức vô cùng. Kiếm gần rơi xuống đất. Nó biết gặp đối thủ lợi hại, vội trầm người xuống đâm lại phía sau. Bây giờ nó mới quay lại nhìn đối thủ, y mặc quân phục người Hán. Y tránh thế kiếm dễ dàng rồi hỏi:

– Ngươi sử dụng kiếm pháp Cửu-chân, vậy ngươi có liên hệ gì với họ Ðào không?

Y nói tiếng Việt rất sõi, thì ra y không phải người Hán. Ðào Kỳ không trả lời, đâm một kiếm vào ngực y. Y không thèm đỡ, trầm người tránh, đưa hai ngón tay bắt lấy kiếm. Ðào Kỳ hoảng hồn, không ngờ trên thế gian có người lại dùng hai ngón tay kẹp được kiếm của nó. Nó buông kiếm nhảy xuống sông, lặn đi. Nhưng nó không bơi được, vì vướng vào một cái lưới cá, ai chụp lên người nó. Bọn quân Hán reo hò, kéo lưới lên, trói nó lại.

Người cầm đầu quân Hán chính là cao thủ bắt kiếm của Kỳ. Y ra lệnh:

– Không được đánh đứa trẻ này, đưa về huyện cho ta hỏi cung.

Nói rồi y nhảy lên ngựa, tay cầm cây gậy tám cạnh và thanh kiếm của Ðào Kỳ ngắm nghía không ngừng.

Ðào Kỳ tức quá chửi:

– Ta thấy võ công của ngươi cũng vào hạng đại tôn sư, không ngờ ngươi cam tâm làm tôi tớ cho Hán. Thực đáng tiếc! Ngươi có thể cho ta biết tên họ được không?

Ngươi kia không nói gì, y rút cây roi da dài, vung ra sau đánh vèo một cái, cây roi quấn quanh người Kỳ, y giật mạnh, nó bị bay bổng lên trời. Người ấy rung tay một cái, thu roi lại, nó bị rơi trên lưng con ngựa. Người ấy không thèm nói, cũng không quay trở lại, cứ thủng thỉnh đi. Ðào Kỳ càng làm tới, chửi bới không ngượng mồm. Khoảng khắc, tới một doanh trại, nhìn chữ đề, Ðào Kỳ biết rằng đó là huyện đường Long-biên.

Người kia bảo Hán binh:

– Ðem thằng bé này vào cho ăn uống tử tế, rồi dẫn lên gặp ta, ta cần hỏi cung nó.

Ðào Kỳ nói:

– Mi trói ta, làm sao ta ăn được?

Tên đội trưởng cười hì, cởi trói cho Ðào Kỳ. Nó vừa ăn, vừa suy nghĩ:

– Không biết giờ này cha mẹ ta ở đâu? Nghiêm đại ca ở đâu? Sư tỷ ta và Tam Tín hiện ra sao? Ta phải tìm kế thoát thân mới được.

Nó liếc mắt nhìn xung quanh, có bốn tên quân Hán cầm đao canh giữ nó, bên trong sân, ba bốn con ngựa cột dưới gốc cây.

Nghĩ được một kế, nó nói vói tên quân Hán nhỏ bé:

– Ðại ca, xin đại ca cho tôi đi đại tiện, tôi mắc đại tiện lắm rồi!

Tên quân Hán nhìn tên đội trưởng hỏi ý kiến. Tên đội trưởng gật đầu. Ðào Kỳ được dẫn về phía sau trại, tới bụi hoa, nó nhảy lùi lại một bước, tay trái chụp cổ tên quân Hán. Tay phải nó bịt miệng lại nói vào tai:

– Nếu mày la lên thì tao bóp cổ cho chết.

Nó xé quần áo nhét vào mồm tên quân Hán, trói lại, lột quần áo mặc vào. Nhìn trước, nhìn sau không có ai, nó ra sân huyện đường, cởi dây cương ngựa vọt lên lưng phi như bay. Tên quân giữ ngựa quát lên:

– Chu Tấn, sao mày dám cỡi ngựa của đại nhân?

Ðào Kỳ phi ngựa như bay, nó sợ quân Hán đuổi theo, cho ngựa rẽ vào một cánh đồng cỏ, rồi vượt một lạch nhỏ qua bên kia. Nó thấy phía trước có xóm làng ở, cho ngựa tiến vào.

Vừa đến gần cổng, nó định lên tiếng gọi người mở cửa, bỗng nó cảm thấy nghẹt thỏ như có ai đánh trộm trên đầu. Nó cúi rạp người xuống tránh, thì người đánh đó đổi chiêu, chụp vào gáy nó. Nó bị nhấc lên khỏi mình ngựa. Người chụp nó cũng nhảy lên lưng ngựa, giật cương cho chạy trở về.

Nó ngạc nhiên:

– Quái nhân này là ai, mà bản lĩnh đến dường này? Ngay Phong-châu song quái cũng không thể bắt ta dễ dàng như thế, thì bản lãnh người phải cao lắm.

Bao nhiêu sợ hãi biến hết, chỉ còn lại sự kính phục, nó nói:

– Tôi chịu thua rồi, chịu phục rồi! Tiền bối, người là cao nhân môn phái nào vậy? Trên đời tôi chưa từng thấy ai võ công cao như người.

Người đó vẫn không nói, để Kỳ ngồi trước ông, cho ngựa chạy. Ðào Kỳ tuyệt không quay đầu lại được, nên không biết người bắt mình là ai.

Nói lại nói:

– Tiền bối, tôi chịu thua, chịu phục rồi, người phải cho tôi biết đại danh chứ. Sao không chịu lên tiếng?

Người kia vẫn không nói gì, tiếp tục ruổi ngựa, chỉ một lát Ðào Kỳ lại nhận ra là huyện đường Long-biên, nó tỉnh ngộ kêu lên:

– Thì ra ngươi là một đại tôn sư Giao-chỉ, nhưng đi làm chó săn cho Hán, thực ô nhục quá.

Người kia bây giờ mới lên tiếng:

– Dù ngươi có phép biến hoá đến đâu, cũng không thoát khỏi tay ta.

Người kia dẫn nó vào cổng đường, rồi ném nó xuống. Nó biết nếu để ném xuống thì đau lắm, nên nó lộn đi một vòng rồi đứng dậy. Thế lộn này chính Nghiêm Sơn dạy nó. Người kia quát lớn:

– Ngươi với Quế-lâm thần kiếm là gì?

Ðào Kỳ nghĩ:

– Nếu mình cứng đầu, cứng cổ, thì nó đánh cho thiệt thân, chi bằng ta mang Nghiêm đại ca ra doạ nó chơi.

Ðào Kỳ nói:

– Chả là gì cả, nhưng ta kêu hắn là đại ca, còn hắn kêu ta là tiểu sư đệ. Ta nói gì đại ca ta cũng nghe hết.

Bây giờ nó mới có dịp nhìn quái nhân, y khoảng 60 tuổi, thân thể gầy như một xác chết, mắt sâu, râu dài tới ngực, nhưng con mắt cực kỳ tinh anh. Y ngồi vào bàn, hỏi Ðào Kỳ:

– Mi còn muốn trốn nữa không?

Ðào Kỳ xì một tiếng:

– Mi ỷ lớn hiếp nhỏ, thực không biết nhục.

Quái nhân nói:

– Sáng nay mi đi với hai người con gái. Một đứa sử dụng kiếm pháp của phái Long-biên, một đứa sử dụng kiếm pháp của phái Cửu Chân-các ngươi đã giết mất tám quân Hán, tội không nhỏ. Lúc ngươi đánh với đệ tử ta ở bờ sông thì dùng kiếm pháp của phái Tản-viên, thế nhảy của ngươi xuống sông thì của phái Cửu-chân. Thế lộn vừa rồi là của phái Quế-lâm. Vậy thì ngươi là người của phái nào?

Quả thực Ðào Kỳ có học lóm của Song-quái một thế kiếm khi nguy nan tự xử để cứu mạng. Còn thế lộn thì nó học của Nghiêm Sơn. Nó cười trả lời:

– Ngươi mà tìm được môn hộ của ta thì ta mới phục ngươi.

Quái nhân nói:

– Ta đấu với ngươi trong mười hiệp là ta tìm được môn hộ ngươi ngay. Nếu trong mười hiệp mà ta không tìm được môn hộ ngươi, thì ta bảo đệ tử ta tha ngươi ra. Y là Huyện-úy Long-biên, chính y đã bắt ngươi ở bờ sông hồi sáng nay.

Ðào Kỳ cười:

– Ðược, ngươi giữ lấy lời. Ta cũng hứa nếu trong mười hiệp mà ngươi tìm được môn hộ của ta, thì ta xin theo hầu ngươi suốt đời.

Nói rồi nó co hai tay vào ngực, tay trái lật xuống dưới, tay phải đánh thẳng vào mặt quái nhân. Quái nhân lùi lại tránh, tay phải thuận thế đảo xuống dưới đánh vào bụng Ðào Kỳ, rồi nói:

– Ðây là quyền pháp của họ Quách ở Nhật Nam.

Ðào Kỳ lộn đầo xuống dưới, hai chân cong như con tôm, đánh vào mặt y. Y bước xéo sang phải để tránh, rồi nói:

– Ðây là Ðảo vĩ cước của phái Long-biên.

Ðào Kỳ phục quái nhân là người bác học, y đánh liền sáu chiêu của các môn phái nhỏ, quái nhân đều kêu ra được cả. Quái nhân bỗng tỉnh ngộ:

– Chết thực! Ðã trải qua tám chiêu rồi, ta mà còn nhường thì nguy mất.

Quái nhân đánh một quyền vào mặt Ðào Kỳ, nó vội lộn ngươi đi hai vòng tránh. Nhưng quái nhân đã túm lấy ngực nó nhấc lên định vật xuống. Nó vội xỉa hai tay vào mắt y, y buông nó ra. Nó biến chiêu xỉa thành ưng trảo chụp vai quái nhân, lộn một vòng qua đầu y, rồi xuống đất.

Nó reo lên:

– Tiền bối, người thua ta rồi.

Quái nhân ngồi xuống ghế cười:

– Ta thắng! Vì không những tìm ra môn hộ, mà còn biết tên sư phụ của ngươi, biết tên của ngươi nữa. Ta nói cho ngươi biết: Ngươi thuộc phái Cửu-chân. Sư phụ của ngươi là cha ngươi, tên là Ðào Thế Kiệt. Ngươi tên là Ðào Kỳ, năm nay ngươi đúng 13 tuổi.

Ðào Kỳ há hốc mồm ra phục. Nhưng nó chợt tỉnh ngộ. Trong lúc nguy nan nó đã sử dụng võ công bản môn để tự cứu, nên bị lộ. Nó nhăn mặt nói:

– Thôi ta thua ngươi, ngươi muốn giết ta thì giết đi.

Người kia nói:

– Ta muốn hỏi ngươi, hiện giờ cha mẹ ngươi ở đâu?

Ðào Kỳ thấy không dấu y được nữa, nói thực:

– Sau trận đánh ở Cửu-chân mấy tháng trước đây, ta bị lạc cha mẹ, sư huynh, sư tỷ, không biết hiện sống chết ra sao. Ta đi khắp tứ phương để tìm.

Quái nhân nói:

– Người con gái xinh đẹp đi với ngươi là sư tỷ ngươi phải không? Còn người con trai sử dụng võ công Long-biên là ai vậy?

Ðào Kỳ tìm cách nói dối quanh:

– Ta nào có biết, chúng ta quen nhau ở Cổ-loa.

Người kia hỏi thêm:

– Sáng nay, ai xúi ngươi đánh giết quan quân của triều đình?

Ðào Kỳ nói:

– Mấy người kia không can gì cả. Ta thấy Hán quân giết người tàn bạo, ta động lòng nghĩa hiệp ra tay mà thôi. Ngươi muốn giết ta thì cứ giết. Nam nhân đại trượng phu ta há sợ chết sao?

Người kia nói:

– Ta không giết ngươi, nhưng ta giữ ngươi, không cho ngươi về với cha mẹ. Ngươi đã hứa rằng nếu thua ta, thì phải làm nô bộc cho ta trọn đời. Vậy ta sẽ bảo đệ tử ta không truy cứu tội giết quân Hán, để ta đem ngươi về làm nô bộc.

Nguyên quái nhân đó là người phái Tản-viên, y tên thực là Lê Ðạo Sinh, hiện là Ðô-úy Giao-chỉ. Y nổi danh là Thái-sơn bắc đẩu đương thời. So vai vế, y cao hơn chưởng môn Ðặng Thi Sách đến hai bậc. Y có mười đệ tử, đều nổi danh.

Hôm trước đây, Thái-thú Nhâm Diên có sức giấy cho Thái-thú Tích Quang về vụ Ðào Thế Kiệt, Ðinh Ðại chạy ra Bắc. Thái-thú Tích Quang ra lệnh cho y tìm tung tích Ðào, Ðinh-hầu để trao đổi với Nhâm Diên. Bây giờ gặp Ðào Kỳ ở đây, y bắt giữ nó, để làm con mồi bắt Ðào-hầu.

Lê Ðạo Sinh nói:

– Ngươi đã thua ta, vậy ngươi phải theo hầu ta, cho đến khi ngươi thắng được ta hoặc ngươi tìm được ai thắng ta thì ta thả ngươi.

Thời bấy giờ người học võ thường giữ lời hứa hơn tính mệnh. Khi giao đấu đã ước hẹn rồi, mà thua, thì người được muốn gì cũng phải theo.

Ðào Kỳ gật đầu:

– Ta biết rồi, bây giờ ta là nô bộc của ngươi.

Ðạo Sinh gật đầu:

– Ngươi tuy nhỏ tuổi, nhưng cũng biết trọng lời hứa, thực xứng đáng là đệ tử danh môn chính phái.

Ðào Kỳ thở dài thườn thượt. Lê Ðạo Sinh hỏi:

– Tại sao ngươi thở dài, ngươi tiếc rằng đã hứa à?

Ðào Kỳ nói:

– Ta không tiếc cho ta, mà tiếc cho Sơn Tinh. Ngày xưa Sơn Tinh anh hùng là thế, không ngờ ngày nay lại có một đồ tôn như ngươi. Xét về võ công, ta thấy ngay tên đệ tử sáng nay của ngươi cũng còn hơn cha mẹ ta. Một nhân tài như ngươi thực hiếm có, nhưng sao lại đem cái tài như vậy ra làm tôi mọi cho người Hán?

Lê Ðạo Sinh tỏ ra người có bản lĩnh, y không cáu giận, nói thản nhiên:

– Ta làm việc với người Hán là theo gương Vạn-tín hầu xưa chẳng từng làm tướng cho Tần Thuỷ Hoàng là gì.

Ðào Kỳ cãi:

– Xưa Vạn-tín hầu làm tướng cho Tần đánh Hung Nô, còn ông thì ông làm tướng cho Hán, đánh người Việt, làm sao mà giống nhau được? So sánh như vậy thì có khác gì so sánh hoa bản hạ với hoa lan, hay so võ công của ta với của ông.

Hai người đi khoảng một giờ tới một trang ấp xung quanh có tre bao bọc rất lớn, quái nhân chỉ:

– Ðây là trang ấp của ta.

Ðào Kỳ ngửng nhìn lên cổng thấy có tấm bảng đề Thái-hà trang.

Vào trang ấp, Lê Ðạo Sinh lấy khoá, xích chân Ðào Kỳ lại nói:

– Ta khoá chân để ngươi không chạy trốn được mà thôi.

Y gọi một người, có vẻ là quản gia ra nói:

– Thằng bé này, ta đặt cho nó cái tên là thằng Két, bởi nó nói như két. Ngươi có bổn phận quản cố nó, hàng ngày cho nó ăn uống tử tế, cho nó giữ nhiệm vụ coi vườn hoa, trồng hoa. Hoa tốt tươi thì cho ăn nhiều, hoa héo thì cho nó nhịn ăn. Nếu nó trốn mà bắt được thì chặt chân nó đi.

Chương 7: Phượng Hoàng Đậu Chốn Cheo Leo Gặp Khi Bão Táp Phải Theo Đàn Gà

Người mà Đào Kỳ gọi là quái nhân đó, thực sự là đệ nhất cao nhân võ học đương thời, họ Lê tên Đạo Sinh. Lê Đạo Sinh là người của phái Tản-viên. Ông hiện là Thái sư thúc của chưởng môn Đặng Thi Sách, và Trưng Trắc, Trưng Nhị. Võ công ông cao thâm không biết đâu mà lường. Thái-thú Tích Quang thấy ông nhiều uy tín, mời ông ra lĩnh chức đô úy, chỉ huy toàn bộ binh mã Giao-chỉ. Ông thu nhận tất cả mười đệ tử, nhưng người đời chỉ biết tên có tám người. Còn hai người, thì không ai biết hành tung của họ ra sao, tên họ là gì. Học trò ông đều được Tích Quang trọng dụng. Sáu người hiện lĩnh chức huyện uý của sáu huyện Giao-chỉ.

Tính tình ông khiêm khiêm, nhã nhặn. Người chính phái hay tà phái, ông cũng giao du, coi như nhau. Tuy lĩnh chức Đô-úy, nhưng ông hay cứu giúp người bị nạn. Các học trò của ông làm huyện úy cũng theo gương ông. Vì vậy dân chúng Giao-chỉ ít nổi dậy chống Tích Quang. Đất Giao-chỉ trải qua một thời gian dài thanh bình.

Giới võ lâm Lĩnh Nam đặt cho ông tên hiệu là Lục-trúc tiên sinh, vì trong Kinh thi có bài thơ ca tụng người quân tử như sau:

Chiêm bỉ kỳ úc,

Lục trúc a a,

Hữu phỉ quân tử,

Như thiết như tha.

Bài thơ Lục-trúc trong kinh Thi, có nghĩa là: Hãy coi kìa cây trúc xanh, lá tươi tốt. Có người quân tử đầy lòng quảng đại. Vì ảnh hưởng của kinh Thi cho nên sau này người ta dùng cây trúc tượng trưng cho người quân tử.

Thời bấy giờ, thì nước Việt bị chia ra làm sáu quận: Giao-chỉ, Cửu-chân, Nhật-nam, Nam-hải, Quế-lâm, và Tượng-quận. Mỗi quận có một Thái-thú đứng đầu, coi về cả hành chánh lẫn quân sự. Một Đô-sát sẽ coi về tế tác, tương đương như ngày nay là cảnh-sát, công-an. Mỗi quận lại chia làm nhiều huyện. Mỗi huyện có một Huyện-lệnh, đều là người Hán, do triều đình Hán cử sang. Dưới Huyện-lệnh có một Huyện-úy chỉ huy về quân sự. Trước kia thì chỉ người Hán mới giữ đó. Từ ngày Lĩnh-nam công, Bình-nam đại tướng quân được phong cai trị Lĩnh-Nam, ông là người nghĩa hiệp, muốn hoà giải thù hận Hán, Việt, cũng trọng dụng người hiền tài, ông ra lệnh cho các Thái-thú, mời những người trong võ lâm, tài đức ra làm Huyện-úy. Cạnh Huyện– lệnh còn có sở Tế-tác, đặt dưới quyền một giám sở. Hầu hết là người Hán. Dưới Huyện-lệnh là các trang, các ấp. Mỗi trang, ấp được cai quản bởi một Lạc-hầu, Lạc-tướng nếu là đồng bằng. Còn lại miền rừng núi thì lại chia ra làm châu, động, được cai quản bởi Châu-trưởng, Động-trưởng. Các chức Lạc-hầu, Lạc-tướng, Châu, Động– trưởng có tính cách cha truyền con nối. Mỗi vị cai trị dân của mình như một nước riêng biệt.

Lê Đạo Sinh làm chủ trang Thái-hà ở vùng Long– biên. Trang này lưu truyền từ cha đến con đã mấy đời. Cho nên người ta còn gọi ông là Thái-hà hầu.

Hôm nay Lê Đạo Sinh dạo chơi chợ Long-biên, thấy bọn quân Hán tàn sát dân chúng, rồi Đào Kỳ, Giao Chi, Nguyễn Tam Tín và Thiều Hoa can thiệp. Quan sát qua, ông cũng biết đó là những đệ tử danh gia. Ông cho đệ tử là Hoàng Đức, Huyện-uý Long-biên bắt Đào Kỳ về tra hỏi. Đào Kỳ dùng mưu trốn thoát, ông theo dõi bắt nó về, để hỏi cho ra nguồn gốc, hầu che chở cho nó.

Đào Kỳ vào Thái-hà trang, nó liếc mắt nhìn qua, thấy rộng lớn hơn Mai-động đã đành, có mòi còn lớn hơn Đào trang nhà nó nữa.

Nhà cửa trong trang đều xây bằng gạch nung, mái lợp bằng cỏ gianh, tường quét vôi trắng. Cứ mỗi nhà lại có cái cổng vào riêng. Trong cổng là một cái sân trồng cây ăn trái, hay hoa. Trước nhà là một đống rơm, sau mỗi căn nhà có một cái nhà nhỏ để làm bếp, làm chuồng trâu, nuôi gia súc. Cứ nhìn qua, nó cũng biết Thái-hà trang rất giàu.

Lê Đạo Sinh thấy nó nhìn ngơ ngác thì hỏi:

– Mi thấy Thái-hà trang của ta so với Đào trang của ngươi thế nào?

Đào Kỳ đáp sự thực:

– Tôi mới coi qua thì thấy dường như rộng lớn, giàu có hơn. Sự thực thế nào thì tôi chưa biết được.

Tới một dinh thự lớn, nằm giữa khu vườn rộng, Lê Đạo Sinh giới thiệu với Đào Kỳ:

– Đây là nhà của lão phu.

Đào Kỳ nhìn phía ngoài là một cái cổng lớn, có ba cửa. Cột cửa cổng bằng gỗ lim, chạm xà cừ óng ánh. Nóc cổng lợp ngói xanh. Cổng giữa có hai cánh cửa cũng bằng gỗ, trên cạnh cửa có chạm hình hai con hổ vờn nhau. Hai cánh cổng hai bên, nhỏ hơn một chút. Nối tiếp cổng là hàng rào bằng trúc, cắt tỉa cầu kỳ thành hình hai con hạc chầu vào cổng.

Ngoài cổng có gia đinh đứng gác. Chúng thấy Đạo Sinh thì mở rộng cửa giữa cho ông đi vào. Trong cổng là một cái sân lớn, giữa sân có cái ao rộng, nước trong veo, trồng đầy sen. Trên bờ ao, là những phiến đá xanh mỏng lớn, đặt sát nhau thành một đường đi. Từ cổng vào, hai con đường đi vòng qua hai bờ ao, dẫn đến một ngôi nhà lớn. Ngôi nhà xây bằng gạch, cao hai tầng, mái lợp ngói xanh. Ngôi nhà hai tầng được nối với hai dãy nhà dài đến mười gian. Trước nhà có hàng hiên chạy dài.

Đi qua hai dãy nhà này, ra phía sau, có hàng chục dãy nhà khác. Đào Kỳ nhìn không biết chán, nó nghĩ:

– Lê tiên sinh giàu gấp mấy bố mình. Coi kiến trúc này, thì tiên sinh có thua gì phủ Thái thú Cửu– chân đâu?

Đạo Sinh dẫn Đào Kỳ vào đại sảnh đường, gặp một lão già tuổi trên 50, Đạo Sinh giới thiệu với nó:

– Lão phu lớn tuổi rồi, lại hay tiêu dao sơn thuỷ, ít chú ý đến việc đời, vì vậy trang Thái-hà này do đại đệ tử của lão là Lê Đức Hiệp trông coi. Người đã thua lão phu, muốn tỏ ra anh hùng hảo hán thì phải chịu sự chưởng quản của Đức Hiệp.

Lão giới thiệu Đào Kỳ với Đức Hiệp:

– Này Đức Hiệp, ta giới thiệu với con, đây là tên nô bộc mới của ta. Nó thuộc con nhà danh gia, võ công cũng khá. Ta dùng nó vào việc tưới cây cảnh trong dinh này. Con kiếm cho nó một phòng ở sạch sẽ. Ăn uống, thì cho nó ăn uống như những nô bộc hạng nhất. Tuy vậy không được coi nó là nô bộc như những người khác. Nó được tự do đi lại, tiền lương bổng thì trả cho nó gấp ba. Nếu nó cần chi tiêu thêm thì có thể cho gấp mười. Đúng ra thì nó bị xử tử hình. Ta đứng ra bảo lĩnh nên nó không bị giết. Ta giữ nó trong trang mục đích để an toàn cho tính mệnh nó, khỏi bị người Hán truy lùng. Đợi sau này tìm được cha mẹ nó thì giao trả.

Đạo Sinh bảo Đào Kỳ:

– Ngươi không dùng tên Đào Kỳ được nữa rồi. Nếu ngươi giữ nguyên họ Đào thì e khó che mắt bọn quân Hán. Hồi sáng, ngươi xưng là Văn-Lang vậy ta cứ gọi ngươi là Văn-Lang.

Đào Kỳ đi theo Đức Hiệp. Nó được dẫn đi qua bảy dãy nhà khác nhau, tới dãy thứ tám thì lão lấy chùm khìa khoá mở một căn phòng ra chỉ cho nó:

– Chú em, đây là phòng chú. Luật lệ trong trang là giờ Mão thì điểm danh. Sau đó ăn cơm sáng, và bắt đầu làm việc. Giờ Ngọ thì ăn cơm trưa. Đến giờ Thân nghỉ, ăn cơm chiều. Cơm chiều xong thì tự do, ai muốn làm gì thì tuỳ ý.

Đào Kỳ nhìn vào trong phòng thấy có một cái phản, trên phản trải chiếu, phòng có cửa sổ mở ra sân. Trên bàn có một cái đèn dầu. Nó bước vào phòng cất đồ. Treo thanh kiếm lên tường. Cây côn đồng, nó để lên giường.

Đức Hiệp vẫy tay cho nó đi theo, chỉ cho nó chỗ ăn cơm, phát cho nó hai bộ quần áo màu xanh, bảo nó:

– Nô bộc ở đây đều mặc quần áo màu xanh cả. Chú phải thay quần áo đi.

Lão chỉ về phía sau, có bốn căn nhà nối nhau theo hình vuông, ngoài có hàng rào tre kiên cố, cửa vào tráng đinh canh phòng nghiêm ngặt dặn nó:

– Kia là cấm địa. Nếu chú tới đó, thì đệ tử của lão gia sẽ đánh chú què chân. Chú phải nhớ đừng quên mà nguy tai.

Đào Kỳ nhủ thầm:

– Cái gì mà là cấm địa. Đã vậy ta phải dọ thám xem cho biết mới được.

Kể từ hôm đó, Đào Kỳ chuyên tưới hoa, cắt xén cây cảnh trong vườn. Ngày ngày theo bọn nô tỳ ăn uống. Lúc rỗi nó dạo khắp trang. Nó khám phá ra trang lớn gấp mấy Đào trang nhà nó, tráng đinh ít ra cũng vài ngàn. Nhân khẩu có tới hơn vạn. Dân chúng nhà nào cũng giàu có, nuôi trâu, nuôi lợn, gà rất nhiều. Nó đến góc phía Đông thì thấy một dãy nhà, trong dãy có bọn thợ rèn đang rèn cuốc, dao, cày, búa.

Ban ngày làm việc, tối đến, nó đóng cửa lại luyện võ. Thỉnh thoảng nó ra ngoài trang chơi, hỏi thăm đường đi Cổ-loa. Người ta chỉ cho nó biết rằng Cổ-loa cách đây khoảng một ngày đường mà thôi. Nó định hôm nào xin phép lão Đức Hiệp đi Cổ-loa để tìm tin tức cha mẹ.

Một hôm Đức Hiệp bảo nó:

– Dưới ao sen đàng trước có mấy cây bèo, vậy chú lội xuống vớt lên, vì để lâu bèo sinh ra nhiều, thì khó vớt.

Nó nhảy xuống ao vớt bèo. Nhân tiện bơi lội trong ao chơi đùa. Nước ao khá trong, nó lặn xuống dưới, đuổi bắt cá. Hồi ở Cửu-chân, nó nổi tiếng là con rái cá. Nó thường lặn dưới nước bắt cá dễ dàng như không. So với cá biển, cá ở ao Thái-hà trang dễ bắt hơn nhiều. Nó bắt được con cá chép, rồi lại thả ra. Nó thoáng thấy một con cá trắm lớn bơi qua trước mặt nó, nó vội đuổi theo. Con cá trắm chui ngay vào cái hang lớn. Nó cũng chui theo. Nó mải đuổi theo con cá trắm, một lúc thì thấy hang hẹp chỉ còn một người qua lọt. Nó dơ tay xem hang có cao không, thì thấy khoảng trống không. Nó đứng dậy mới hay cửa hang nhỏ, chìm dưới nước. Còn vào trong là một đường hầm, nửa dưới nước, nửa trên cạn. Nó tiếp tục đi nữa thấy ánh sáng lọt vào, thì ra hang cá là một con sông ngầm thông với bên ngoài. Tới chỗ có ánh sáng, bị vướng bảy tám cái cột gỗ đóng như chấn song, người chui qua không lọt. Nó ghé mắt nhìn qua bên kia, là một cái ao nhỏ. Trên bờ ao có căn nhà. Nó nhận ra được đó là căn nhà Đức Hiệp bảo với nó là cấm địa.

Nó nghĩ thầm:

– Cấm địa gì đây? Tại sao lại có đường thông với ao? Ta phải vào dọ thám xem mới được.

Quyết định rồi, nó lội trở ra, lên bờ mặc quần áo ăn cơm. Chờ trời tối cho mọi người đi ngủ, nó lấy kiếm dắt vào lưng rồi ra bờ ao, cởi quần áo dấu vào bụi hoa, lặn xuống ao, lần theo đường cũ mà đi. Tới chỗ chấn song, nó dùng kiếm vận sức vào tay cắt một thanh nhỏ. Nó khôn ngoan cắt khúc chìm dưới nước, để không bị khám phá ra. Nó nhỏ người, nên sau khi cắt một cột, nó chui tọt vào trong được.

Ra khỏi hầm là một cái ao nhỏ, nó đứng lên đi vào bờ. Đảo mắt nhìn nó thấy bốn gian nhà làm dính với nhau thành hình vuông. Mỗi gian dài khoảng mười trượng. Những gian nhà này chia thành nhiều phòng nhỏ. Mỗi phòng đều có một cửa sổ rất nhỏ, đút lọt một nắm tay, và một cái cửa lớn. Cửa được khoá bằng những ổ khóa to. Nó đi một vòng hết bốn dãy nhà, mỗi dãy có một lối thông cắt ngang ra phía trước, thông với cái cổng.

Nó ngồi im suy nghĩ:

– Bốn dãy nhà, đều có phòng nhỏ khoá kín. Mỗi dãy có lối thông với cổng. Ngoài cổng ban ngày có người gác, ban đêm thì lại khoá chặt. Thế những gian nhà này chứa gì đây?

Có tiếng ho từ trong nhà vọng ra, nó giật nảy người lên:

– Tại sao trong phòng có người ho? Vậy những người này là ai? Chắc chắn họ bị giam ở đây rồi. Thì ra đây là một nhà tù. Lục-trúc tiên sinh giam ai ở đây?

Nó đến trước phòng có tiếng ho, sờ soạng định tìm cách mở cửa, nhưng cửa gỗ rất chắc chắn, khoá bằng cái khoá lớn, không có cách nào vào cả. Nó suy nghĩ:

– Ta hãy tạm trở về, lần sau tìm cách mang đá lửa, gỗ bồi vào đây để đốt lên thì may ra tìm được manh mối vào nhà tù.

Nó theo lối cũ trở về, mặc quần áo vào phòng ngủ. Nó tự nhủ rằng phải tìm cách đột nhập vào phòng Đức Hiệp, để ăn cắp chìa khoá nhà tù mới được. Từ đó ngày ngày nó rình Đức Hiệp, thấy mỗi ngày y cùng gia đinh khiêng mấy thùng cơm lại khu nhà tù. Nó đoán rằng lão cho tù ăn. Nó chờ cho đến khi lão trở về, tay lão cầm hai chùm chìa khoá. Nó đoán rằng đó là chìa khoá mở nhà tù. Nó vờ đi sau lão, tới phòng cất chìa khoá nó hỏi:

– Đức Hiệp lão gia, cháu muốn lão gia giúp cháu một việc được không?

Đức Hiệp gật đầu:

– Được, việc gì chú nói tôi nghe xem có giúp được chú không đã.

Lão vào phòng, nó đi theo. Lão treo chìa khoá lên tường. Nó liếc thấy trên tường có rất nhiều chìa khoá, nó ghi nhớ hai cái chìa khoá lão mới treo lên, rồi nói:

– Chuyện của cháu nhờ thì dễ quá. Cháu có người thân ở Cổ-loa. Vậy đến ngày rằm này lão gia cho cháu nghỉ ba ngày đi thăm họ hàng.

Đức Hiệp gật đầu:

– Chú đến đây đã mấy tháng, làm việc chăm chỉ, vườn hoa tươi tốt, hoa nở rất đẹp. Ta thưởng cho chú nghỉ ba ngày đi thăm người nhà. Ta quên mấy tháng qua chưa phát lương cho chú. Nô bộc hạng nhất mỗi tháng được ba chục đồng tiền. Đây ta phát cho chú 270 đồng, tức ba tháng lương.

Lão đưa tiền cho Đào Kỳ. Đào Kỳ cám ơn lão rồi về phòng.

Nó ra bờ ruộng lấy mấy cục đất bùn nắn thành hai miếng vuông vức, rồi đem phơi nắng. Đến ngày thứ năm, hai viên đó đã khô gần cứng. Nó rình chờ lão Đức Hiệp ra khỏi phòng, lập tức chui vào phòng lão, lấy hai cái chìa khoá để lên viên đất, lấy viên thứ nhì úp lên, ấn mạnh một cái, hai cái chìa khoá in dấu vào viên đất. Nó treo chìa khoá lên chỗ cũ rồi ôm hai cục đất về phòng.

Trưa hôm đó nó tới chào lão Đức Hiệp rồi thuê xe ngựa đi Cổ-loa. Xe ngựa phải đi mất hơn ba giờ mới tới nơi. Bước xuống chợ Cổ-loa lòng nó chứa chan tủi hận.

Đây là Cổ-loa, xưa An-Dương vương đã xây thành này. Nay tuy đã bị phá, nhưng nhiều chỗ tường vẫn còn. Dân chúng cố đô khá đông đúc. Nó tìm vào quán nước uống, hỏi thăm chủ quán:

– Thưa bác, cháu hỏi thăm bác vùng này có nhà nào họ Đào không?

Bà lão chủ quán lắc đầu ngơ ngác trả lời:

– Tôi ở đây từ thuở bé, chưa tùng biết một vị nào họ Đào cả.

Câu trả lời của bà chủ quán nước làm cho nó thắt tim lại. Rõ ràng trước khi xảy ra trận đánh cảng Bắc, bố nó dặn dò mọi người rằng nếu thất lạc chạy ra Cổ-loa tìm chú nó là Đào Thế Hùng. Năm trước đây, Thái-thú Nhâm Diên đưa ra chương trình Hán hoá đất Cửu-chân, gia đình họ Đào đã biết rõ âm mưu độc địa đó, cương quyết chống lại. Bố nó bàn với chú nó dẫn tráng đinh ra kinh đô cũ nhà Thục là Cổ-loa lập nghiệp làm thế ỷ dốc. Nếu Cửu-chân có gì, thì còn đất mà sống. Bây giờ, nó tới đây hỏi tin tức, thì tin chú không có đã đành, còn bố mẹ, cậu nó hiện ra sao? Phiêu bạt nơi đâu? Bị Hán quân đánh chìm xuống bể hay bị giết hết rồi? Điều này nó có thể nhờ Nghiêm Sơn tìm dùm.

Nó tự nghĩ:

– Từ Long-biên lên Luy-lâu cũng không xa, ta phải lên đó để gặp Nghiêm đại ca mới được. Không biết từ hôm thất tán đến giờ sư tỷ ta đi đâu? Chắc lại chạy về Mai-động. Ta chỉ việc về Mai-động là gặp sư tỷ ngay. Dù sao, ta cũng phải dọ thám cho ra nhà tù của Lê Đạo Sinh cái đã. Y giam ai? Tại sao những người đó lại bị cầm tù? Y cầm tù người ta để làm gì?

Nghĩ đến bố mẹ, anh, sư huynh hiện không biết lưu lạc phương nào, nó thất vọng. Tai nghe tiếng bình bịch phía sau. Nó nhìn về đó thì thấy một lò rèn đang làm việc. Nó đến nơi hỏi người thợ rèn:

– Này chú, chú có biết làm chìa khoá không?

Người thợ rèn gật đầu:

– Cậu muốn làm chìa khoá gì?

Nó đưa hai viên đất khô ra nói:

– Tôi có hai cái chìa khoá đã in dấu vào đây, chú làm cho tôi mỗi thứ một cái.

Người thợ rèn cầm lên xem, thấy ngộ nghĩnh nói:

– Được, tôi làm cho cậu, nhưng phải hai đồng một cái.

Nó bằng lòng. Người thợ rèn lấy sắt rèn, một lúc thành hai cái chìa khoá. Anh ta bỏ vào lỗ khuôn ướm thử, rồi rèn một chút nữa thì xong.

Đào Kỳ trả anh ta gấp đôi tức tám đồng, rồi thuê xe trở về Thái-hà trang. Từ bến xe ngựa trở về Thái-hà trang khá xa, nó vào một quán nước bên đường để mua bánh ăn, vì nó đi từ sáng đến giờ chưa có gì bỏ bụng. Nó ăn hai tấm bánh dày với chả, ăn thêm mấy quả chuối, nó định đứng dậy, thì thấy ba người đeo kiếm vào quán. Người thứ nhất là một ông già gầy, râu tóc bạc, tuổi có lẽ cũng ngang với Lê Đạo Sinh phục sức rất sang trọng. Người thứ nhì là một ông già mập mạp, tướng coi như một phú gia. Người thứ ba là một phụ nữ tuổi trên 50, dáng người mảnh khảnh. Thị tuy lớn tuổi, nhưng coi còn mặn mà.

Ba người vào quán ăn mấy cặp bánh dày giò. Hai người đàn ông còn gọi thêm mấy cút rượu để uống. Người đàn bà hỏi cô chủ quán:

– Cô chủ quán ơi, cô có thể thuê dùm tôi một cái xe ngựa đến Thái-hà trang không?

Cô chủ quán nói:

– Từ đây đến Thái-hà trang không xa, nên không có xe ngựa nào đi về phía đó cả. Vả lại Lục-trúc tiên sinh, Lạc hầu nói rằng cần dành xe ngựa cho khách đi xa, còn người Thái-hà trang phải đi bộ một quãng cũng không sao. Vì vậy ngựa không đón khách gần, đến Thái-hà.

Người đàn ông béo mập nói nhỏ với đồng bọn:

– Sư huynh, sư muội thấy không, Lục-trúc tiên sinh là người quân tử, nên dạy dỗ dân trang như thế đó.

Đào Kỳ bây giờ mới biết ba người là sư huynh, muội. Người gầy có vai vế cao nhất, người thứ nhì là ông mập. Người cuối cùng là lão bà. Không biết họ tới Thái-hà trang làm gì. Cứ nhìn qua cũng biết họ là bạn hữu của trang chủ, võ công rất cao.

Đào Kỳ ăn xong, lên đường trước. Nó không về trang ngay, vì lão quản gia Đức Hiệp đã cho nó nghỉ ba ngày. Nó quyết lên Long-biên để tìm Nghiêm Sơn. Nó ra bến xe thuê một chiếc xe ngựa lên Long-biên.

Trên đường đi lòng nó se lại, mọi hôm trước đây, nó cùng sư tỷ, Tam Tín, Giao Chi cùng đi Long-biên, bây giờ thất lạc nhau, không biết họ ra sao. Nó sống bên cạnh Thiều Hoa từ nhỏ, chị em rất tương thuận, đi đâu cũng có nhau, bây giờ phải xa Thiều Hoa, nó cảm thấy nhớ nhung vô cùng. Nó quyết lên Long-biên để tìm cách thông tin cho Nghiêm Sơn, rồi nhờ Nghiêm Sơn tìm cha mẹ và sư tỷ nó.

Tới Long-biên, nó vào một tửu lầu, leo lên tìm một bàn gọi mấy món ăn, ngồi nhấm nháp. Đảo mắt nhìn qua, thấy tửu lầu toàn quan lại người Hán rồi tới khách thương, không có dân chúng. Nó là đứa trẻ duy nhất ở trên tửu lầu. Nó liếc sang bên cạnh thấy một viên quan võ người Hán tuổi khoảng 30, tướng mạo rất hùng vĩ, nó nghĩ:

– Nghiêm đại ca là Lĩnh-nam công, tất viên quan võ này phải biết. Ta cứ nhờ y thông tin là được.

Nghĩ vậy, nó đến quày hàng mượn bút mực viết mấy chữ rất giản dị:

Sư tỷ bị mất tích,

Đào Kỳ ở Thái Hà trang.

Rồi cho vào bao thơ đóng kín lại, nó viết ngoài bao thư:

Bình Nam đại tướng quân khai khán.

Nó tiến đến bàn vị võ quan chấp tay hỏi:

– Kính chào đại nhân. Tiểu nhân không dám hỏi quan tước đại nhân.

Viên võ quan thấy đứa bé nói năng lễ phép, mặt mũi khôi ngô, y vui vui nói:

– Ta là lữ trưởng kÿ binh ở Luy-lâu. Ta mới xuống đây có việc, mai trở về. Chú bé, chú hỏi có việc gì vậy?

Đào Kỳ mừng ra nét mặt. Nó nghĩ:

– Nghiêm đại ca có tai mắt khắp nơi. Chúng thường báo cáo tin tức cho người. Vậy ta cũng phải làm theo lối này mới được.

Nó khẽ nói:

– Tiểu nhân có tin cơ mật, muốn nhờ đại quan thông tri khẩn cấp cho Nghiêm tướng quân ở Luy-lâu.

Nói rồi nó đưa phong thư ra. Viên Hán quan cầm phong thư bỏ vào túi hỏi:

– Mi thuộc cơ đội nào?

Nguyên quân Hán mướn rất nhiều người Việt làm tai mắt cho chúng. Viên Hán quan tưởng Đào Kỳ cũng là một trong những người tai mắt nên hỏi nó làm việc cho cơ đội nào. Đào Kỳ tinh ý hiểu ra, nó bịa đại:

– Tiểu nhân làm việc với Hợp-phố lục hiệp.

Viên Hán quan gật đầu, nhận lời. Nó chắp tay vái chào rồi trả tiền xuống lầu. Nó tìm đến tiệm bán tạp hoá, mua đá lửa, củi bồi để mồi lửa, mấy cây nến loại lớn. Nó mua thêm con dao trủy thủ loại tốt. Nó là đứa trẻ nhiều mưu trí, nó định dọ thám nhà tù ban đêm, nên cần có đá lửa, nến và củi bồi để có ánh sáng dọi trong nhà tù. Với một con dao nhọn, nó dễ xoay sở hơn là dùng kiếm. Trong trang Thái-hà có đủ cửa tiệm bán những thứ đó, nhưng nó muốn giữ bí mật hành tung, nên ra Long-biên mua cho kín đáo.

Trở về Thái-hà trang, nó biết với một trang trại lớn như Thái-hà trang thì tổ chức phòng vệ phải cực kỳ nghiêm mật, nhất là trong trang còn giam giữ người nữa. Kinh nghiệm những ngày còn ở Đào trang cho biết, khi thu nhận người lạ vào trong trang, thì phải theo dõi một thời gian. Bây giờ nó đi ra ngoài ba ngày, trở về, thế nào cũng bị theo dõi, nên nó tuyệt không có hành động gì khác lạ.

Ba ngày sau, nó vừa thức giấc thì tiểu đồng hầu cận Đức Hiệp đến gõ cửa gọi nó:

– Quản trang cần gặp ngươi!

Nó vội vã mặc quần áo đến gặp Đức Hiệp. Đức Hiệp bảo nó:

– Này chú bé Văn-Lang, hôm nay tên thư đồng hầu tiểu thư bị ốm, ngươi được thay thế nó để hầu hạ tiểu thư. Vậy ngươi theo ta đến phòng tiểu thư.

Lão dẫn nó đi sang dãy nhà thứ nhì. Đây là dãy nhà có nhiều hoa thơm, cỏ lạ nhất. Hàng ngày nó vẫn đến đây tưới cây, nhưng nó chưa thấy tiểu thư bao giờ.

Đức Hiệp đến trước một phòng gõ cửa ba tiếng, rồi nói:

– Tiểu sư muội, ta mang đến cho tiểu sư muội một tên thư đồng mới.

Tiếng nói thanh thoát từ trong vọng ra:

– Có phải thằng nhỏ trồng hoa không? Cho nó vào đi.

Đức Hiệp vẫy Đào Kỳ cho vào. Đào Kỳ vào phòng, thấy một thiếu nữ tuổi khoảng 17-18 ngồi trên ghế đọc sách. Nhan sắc xinh đẹp, dáng người thanh tú. Đôi mi cong lên trông rất khả ái:

– Tôi là tiểu đồng Văn-Lang, đến hầu tiểu thư.

Thiếu nữ nhìn nó từ đầu đến chân rồi hỏi:

– Ta nghe sư huynh Đức Hiệp nói ngươi là con nhà thế tộc danh gia, phạm tội giết quân Hán, đáng lẽ bị tru lục, nhưng nhờ sư huynh ta làm Huyện-úy nên tìm cách chạy tội cho ngươi. Ngươi vì đánh cuộc với cha ta, nên phải làm nô bộc cho ta. Đức Hiệp còn nói: Với khả năng của ngươi, ngươi muốn trốn khỏi Thái-hà trang lúc nào chả được, nhưng tuyệt nhiên ngươi không làm thế. Nô bộc khác thường chỉ làm việc để lĩnh tiền, ham chơi. Còn ngươi thì chả bao giờ ngươi đòi tiền, chăm chỉ cần cù. Như vậy thì người là đấng trượng phu có tư cách, chứ không phải như những kẻ khác, nói đấy rồi lại nuốt lời. Ta có một tên thư đồng, nó bị ốm, ta không muốn ngươi phải tưới hoa nữa, ngươi lên đây làm việc với ta. Lúc rảnh rỗi, ngươi nên đọc sách để mở rộng hiểu biết, còn hơn là tưới cây cắt hoa.

Đào Kỳ xá thiếu nữ:

– Cám ơn tiểu thư quan hoài.

Bây giờ nó mới nhìn kỹ thiếu nữ, nước da trắng mịn, dáng người thanh thoát, đôi mắt sáng, to đẹp vô cùng. Nó so sánh thiếu nữ với sư tỷ Thiều Hoa thì thấy nàng thua xa. Ỏû sư tỷ nó thấy toả ra một vẻ thu hút người ngoài vào. Sư tỷ nó cũng dáng người mảnh khảnh, nhưng cử chỉ linh hoạt hơn, tính tình thì dường như cả hai cùng ôn nhu văn nhã như nhau. Nó hỏi thầm:

– Không biết tiểu thư này có biết võ như sư tỷ mình không? Dường như nàng chỉ đọc sách mà thôi. Đúng ra nàng không đẹp bằng sư tỷ mình, nhưng kể ra cũng khó kiếm được người đẹp như nàng. Không biết có phải nàng là con của Lê Đạo Sinh không?

Công việc của thư đồng chẳng có gì, ngoài việc đốt trầm trong lư hương của tiểu thư, xếp đặt sách vở lại cho gọn, lau chùi án thư đọc sách, mài mực. Nhưng có điều nó muốn chạy chơi thì không được. Nó cứ phải ở phòng đọc sách, tiểu thư gọi nó phải vào. Chỉ có giờ ăn cơm thì nó được tự do thôi.

Sáng hôm ấy, nó vừa đốt trầm hương xong thiếu nữ bảo nó:

– Lát nữa đây thầy của ta đến, ngươi cũng phải chào kính cho lễ độ.

Lát sau, một người trang phục theo lối nho sinh, tuổi khoảng tứ tuần đến. Thiếu nữ cung kính chấp tay:

– Con là Phương Lan cung kính vấn an thầy.

Nho sinh vẫy tay:

– Không dám, tôi cũng kính cẩn vấn an tiểu thư.

Đào Kỳ liếc nhìn nho sinh: Mặt mũi tươi hồng, tiếng nói lớn mà khoan thai, dáng điệu đường bệ. Nó cũng chấp tay hành lễ. Nho sinh hỏi Phương Lan:

– Thư đồng mới đấy à?

Phương Lan nói:

– Thưa thầy, vâng. Chú bé này là con nhà danh gia, vì bị tội nên sư huynh con cứu ra. Cha con cho chú ẩn thân ở đây.

Nghe giọng nói lơ lớ không rõ, Đào Kỳ mới biết nho sinh không phải người Việt, mà là ngưởi Hán. Ông nói:

– Phạm tội à? Nếu phạm thường tội như ăn cắp, ăn trộm thì cần phải dạy dỗ lại, trẻ con đã biết gì? Chú là con nhà danh gia thì chắc không phải ăn trộm ăn cắp đâu. Hắn lại học võ, rồi đi đánh bọn quân Hán hung dữ chứ gì? Hừ… ta còn lạ gì bọn này nữa. Nếu chú phạm tội đó thì không phải là tội, mà là thiếu niên anh hùng. Ta là người Hán, nhưng ta chúa ghét bọn Hán tàn bạo. Ta là nho sinh, đi truyền đạo của Phu-tử, ta coi người Việt, người Hán cũng như nhau. Nhưng người Việt đáng thương hơn.

Đào Kỳ thấy thiện cảm với nho sinh. Nó sang phòng bên ngồi. Bên này, nho sinh đang giảng Bắc sử cho Phương Lan. Trong lịch sử giáo dục Việt Nam, từ hồi Lĩnh Nam cho đến những năm 1925-1926, học sinh thường học hai thứ sử, một là Bắc sử tức sử Trung Hoa, hai là Nam sử tức sử Việt Nam. Vào thời kỳ Lĩnh-nam, học sinh chỉ học Bắc-sử, còn một số ít con nhà danh gia yêu nước mới học Nam-sử. Đào Kỳ là con một Lạc-hầu đất Cửu-chân, chí lúc nào cũng mong phản Hán phục Việt, nên nó được học Nam sử rất kỹ. Nó ngồi yên nghe nho sinh giảng về thời đại Hán-Sở tranh hùng:

“… Xuất thân của Hán Cao-tổ là người thất học, hạnh kiểm, đạo đức cũng không có. Tài không, đức không nên Cao-tổ rất nể sợ những người dòng dõi thế gia. Lưu-hầu Trương Lương, bảy đời làm tướng, được Cao-tổ nể nhất, kế gì cũng tin, nói gì cũng nghe.

Khi được nước rồi thì Cao-tổ không chịu phong tước cho tướng sĩ. Chiều chiều họ hay tụ nhau ở bãi sông đùa nghịch. Cao tổ đứng trên lầu thấy vậy hỏi Trương Lương:

– Các tướng tụ hội nhau làm gì vậy?

Trương Lương dọa:

– Để làm phản.

Cao tổ thất kinh hỏi:

– Tại sao họ phản ta?

Trương Lương đáp:

– Bệ hạ cùng họ vào sinh ra từ, trăm cay nghìn đắng mới có ngày nay. Thế mà khi được nước rồi, chỉ mất một tờ giấy, cho mỗi người một chức, tước, bệ hạ cũng không cho. Ngược lại bệ hạ rình họ có lỗi gì thì mang ra giết. Họ không phản sao được?

Cao tổ hoảng kinh hỏi:

– Thế thì ta phải làm gì?

Đáp:

– Bệ hạ ghét ai nhất?

– Bình sinh ta ghét nhất Ung Sỉ. Khi hắn còn theo Hạng Võ, đã mang quân vây bắt gia quyến ta. Nay tuy về hàng mà ta còn chưa quên.

– Vậy thì ngày mai bệ hạ gọi Ung Sỉ vào phong tước cho y. Tự nhiên những người khác tỉnh ngộ rằng bệ hạ chưa phong chức tước là còn chờ đấy thôi, chứ người bệ hạ ghét nhất còn được phong nữa là… Sau đó bệ hạ phong cho mỗi người một chức, cho họ đi các phương trấn nhậm thì lo gì.

Vì vậy con thấy đấy, phàm khi người nghèo khó thì người ta dễ thân với nhau. Khi có mùi phú quý rồi, thì người ta xa nhau. Cao tổ là người thất học, vô lại, khi được ngôi vua thì quên rằng ngôi vua đó là do những người theo mình mới thành, mất một tờ giấy, phong chức tước cho người ta cũng không. Ba người giúp Cao tổ thành đại nghiệp là: Hàn Tín về quân sự, Tiêu Hà về hành chánh, Trương Lương về chính trị. Trương Lương khôn ngoan, biết sự đã thành rồi, khó sống yên, nên bỏ đi tu mà thoát nạn. Tiêu Hà cầm quyền hành chánh không đáng lo. Cao tổ bắt bỏ tù. Hàn Tín cầm quyền quân sự, Cao tổ lo lắng, đem cả nhà giết đi. Cho nên phê bình về Hán Cao tổ, cổ nhân đã nói “Trương Lương dĩ khứ, Tiêu Hà dĩ ngục, Hàn Tín dĩ trảm, Hán đắc thiên hạ để do Tín vi công,” nghĩa là Trương Lương bỏ đi tu, Tiêu Hà bị tù, Hàn Tín bị giết. Nhà Hán được thiên hạ đều do công của Hàn Tín.”

Đào Kỳ đã đọc sử về giai đoạn này, nhưng nó không được thầy đồ phẩm bình. Nay nghe nho sinh này phê bình đanh thép, nó đâm ra khâm phục. Nó nghĩ:

– Dạy sử như thế thì hãy nên dạy. Chứ dạy sử chỉ là kể truyện xưa thì kể làm gì. Nho sinh này là người Hán, mà không hề thiên vị các vua nhà Hán.

Sau khi giảng sử, thì nho sinh cho Phương Lan nghỉ một lúc rồi lại giảng về kinh Dịch. Hồi ở Cửu-chân, Đào Kỳ chuẩn bị học kinh Dịch thì xảy ra biến cố, nên nó chưa được biết gì về khoa học tối cao này. Nho sinh giảng về học thuyết Âm Dương:

“… Âm Dương là kỷ cương của trời đất. Truyền thuyết nói rằng học thuyết Âm Dương là do vua Phục Hy tìm ra, sai lắm. Âm Dương là một học thuyết về sự tuần hoàn của vũ trụ: Trời là Dương, đất là Âm. Nắng là Dương, mưa là Âm. Khí là Dương, huyết là Âm. Học thuyết Âm, Dương bao trùm tất cả các môn học như: Ăn uống, địa lý, lịch sử, võ học.

Nhưng trong con người ta thì phía lưng là Dương, phía bụng ngực là Âm. Bên trái là Dương, bên phải là Âm. Phía trên là Dương, phía dưới là Âm. Trong người thì Tâm, Can, Tỳ, Phế, Thận là Âm. Còn Vị, Đại trường, Tiểu trường, Tam tiêu, Bàng quang, Đởm là Dương.

Phàm con người tập võ cũng phải hiểu quy luật Âm Dương. Đánh là Dương, thủ là Âm. Ngoại công như các chiêu thức là Dương, còn nội công tức luyện cho lực khoẻ là Âm. Tập võ, cũng như luyện võ, cần phải giữ cho Âm, Dương thăng bằng. Âm Dương không thăng bằng thì sẽ mất, không thành công. Có người lo luyện chiêu thức, nhưng chiêu thức tinh diệu mà đánh ra không có lực thì cũng vô ích”.

Đào Kỳ nghe nho sinh giảng đến đâu, tỉnh ngộ đến đó, nó nghĩ:

– Tại sao ta không đem học thuyết Âm Dương áp dụng vào việc luyện võ? Lối luyện võ của nhà ta thiên về Dương cương, nên muốn trở thành cao thủ thường phải lớn tuổi mới đạt được. Nếu ta biết điều hoà Âm Dương thì có thể tiến mau hơn được.

Phương Lan hỏi:

– Thưa thầy, trong các võ phái Lĩnh-nam, đã có phái nào biết áp dụng học thuyết Âm Dương chưa?

Nho sinh đáp:

– Phái Long-biên thì thiên về Âm nhu. Phái Cửu-chân, Hoa-lư thì thiên về Dương cương. Phái Sài-sơn thì khi cương khi nhu, nhưng họ không nhất thiết luyện võ, mà còn học cả y học, trồng hoa, văn học và cả nghệ thuật nấu ăn nữa. Phái Tản-viên toàn Dương cương, trước đây Vạn-tín hầu Lý Thân có nhân các chiêu số Dương cương, chế ra các chiêu Âm nhu chống lại. Nhưng chính ngài cũng chỉ sử dụng từng chiêu một hoặc Âm hoặc Dương chứ chưa thể hợp nhất Âm, Dương làm một.

Phương Lan im lặng một lúc hỏi:

– Cha con thường nói rằng, ngày trước phái Tản-viên nhà con uy danh lừng lẫy với Phục ngưu thần chưởng của phò mã Sơn Tinh. Sau phò mã Sơn Tinh bị bại về tay Vạn-tín hầu Lý Thân, nguyên vì Vạn-tín Hầu dùng nhu thắng cương. Dù thắng được Sơn Tinh, nhưng ngài cũng khâm phục kẻ chiến bại, nghiên cứu Phục ngưu thần chưởng, rồi chế ra 36 chiêu Âm nhu chống lại, và cũng đặt tên là Phục ngưu thần chưởng. Chưởng pháp này lưu truyền trong phái Tản-viên chỉ được có một đời. Đến đời sau thì 36 chiêu Âm nhu không sử dụng được, vì không có nội công Âm nhu của Vạn-tín hầu… Rồi dần dần cho đến nay chính 36 chiêu Dương cương cũng bị mai một. Cha con là đệ nhất cao nhân của phái Tản-viên mà cũng chỉ biết có 12 chưởng.

Nho sinh gật đầu:

– Đúng thế, nếu ai học được nội công Âm nhu của Long-biên với nội công Dương cương của Tản-viên và Cửu-chân thì sử dụng được toàn bộ Ngưu phục thần chưởng.

Chiều hôm đó, Đào Kỳ xếp sách cho Phương Lan, nó thấy bộ Lục-thao bèn cầm lên xem:

– Bố ta nói ngày trước Khương Tử Nha có tài trùm hoàn vũ, thứ nhất là thuật dùng người, thứ nhì là thuật cai trị, thứ ba là thuật dụng binh, giúp Võ vương nhà Chu được thiên hạ. Sau Khương Tử Nha chép lại thành bộ Lục-thao. Bộ này người Hán dấu diếm không cho truyền sang đất Việt. Lục Trúc tiên sinh giao thiệp với người Hán nhiều nên mới có sách này. Ta ở đây chẳng làm gì, tại sao không học, để sau này dùng phản Hán phục Việt? Lấy Lục-thao đánh Hán đúng là Giáo Chệt đâm Tầu vậy. Bố ta bảo: Người Hán có cái hay thì học lấy, cái dở thì tránh đi. Người Hán tốt thì thân, người Hán xấu thì tha. Đừng vì người Hán xấu mà ghét hết người Hán và ghét cả học thuật của họ.

Từ đấy hàng ngày ngồi cho Phương Lan sai, nó ôm cuốn Lục-thao nghiền ngẫm. Chỗ nào khó hiểu, nó chịu khó đọc đi đọc lại, thì sáng nghĩa ra. Có ai ngờ một bộ sách triết lý về quân chính cao như vậy, mà đến tay một đứa nhỏ, lòng đầy tự hào gia thế, dân tộc, nên hiểu thấu. Tuổi nó tuy mới 13, nhưng nó đọc sách đó, nó có những suy nghĩ như người lớn. Nó nhận thấy nho sinh dường như giảng tất cả những loại sách Bách-gia, Chư-tử cho Phương Lan, dù những thư đó nàng không thích, không cần thiết cho nàng.

Một hôm sau giờ dạy, Phương Lan bưng ra một thùng hoa quả, gồm mít, chuối, ổi, cam và bưởi dâng cho nho sinh. Nho sinh nói lời cám ơn, bảo Đào Kỳ:

– Cháu bé, phiền cháu mang ra xe cho ta.

Đào Kỳ mang thùng hoa quả ra chỗ xe ngựa của nho sinh. Khi rời xa phòng Phương Lan, nho sinh hỏi nó:

– Tất cả những bài ta giảng, cháu hiểu hết không?

Đào Kỳ giật mình. Không ngờ nho sinh tinh tế đến như thế, dù nó ngồi ở phòng bên kia, ông cũng biết nó lắng tai nghe. Bây giờ nó mới hiểu rằng sở dĩ ông giảng lớn tiếng và giảng toàn những loại sách chính trị, quân sự cho Phương Lan là cốt cho nó nghe. Nó cảm thấy trong lòng dâng lên một niềm ghi ơn sông rộng:

– Tiên sinh! Cháu hiểu hết tất cả những gì tiên sinh giảng. Cháu biết thâm ý tiên sinh giảng sách cho cháu nghe hơn là cho Phương Lan, ân nghĩa này không bao giờ cháu quên. Xin tiên sinh cho cháu biết danh tánh.

Nho sinh nói:

– Ta họ Lục, tên Mạnh Tân, người đất Kinh-châu. Ta thi đỗ Hiếu-liêm, làm quan Thái-sử của Hán triều. Nhân ta buồn thế sự, nảy ra ý sang Giao-chỉ truyền đạo thánh hiền. Ta sang mở trường dạy học ở Long-biên, học trò ta có cả Hán lẫn Việt. Ta… ta… rất khâm phục những người hào kiệt như cha cháu. Ta chống thái thú Nhâm Diên, Tích Quang lợi dụng đạo thánh để đồng hoá người Việt, hơn là thực tâm truyền bá học thuật. Tại sao Việt phải nhập vào Hán? Việt là Việt, Hán là Hán, hai nước hàng xóm thân thiết với nhau có hay hơn không? Kể từ ngày mai, nếu cháu có gì thắc mắc cứ hỏi ta. Lục-trúc tiên sinh nể ta lắm, không dám làm khó dễ cháu đâu.

Khi Lục Mạnh Tân lên xe, Đào Kỳ quỳ gối xuống lạy bốn lạy:

– Xin thầy nhận cho con bốn lạy này.

Mạnh Tân để Đào Kỳ lạy rồi nói:

– Từ nay con là học trò ta, cũng như Phương Lan.

Đào Kỳ gặp Mạnh Tân, nghe lời ông nói, như người ở dưới sình lầy được lên bờ tắm gội. Nó tự nhủ từ nay tối thì nó luyện võ, ngày thì nó đọc sách. Sau này gặp lại cha mẹ, thấy nó học được nhiều, chắc mừng lắm.

Kể từ hôm đi Long-biên về tới nay là 15 ngày, nó ước chừng người của Thái-hà trang không theo dõi nó nữa. Đợi trời tối, nó dùng giấy dầu gói giấy bổi, đá lửa, nến, rồi dắt dao truỷ thủ ra bờ ao. Nhìn kỹ xung quanh không có ai. Nó cởi quần áo dấu kín, rồi xuống ao, lần vào đường hầm đến nhà tù. Nó vừa thò đầu lên nhìn qua song gỗ, thì thấy trong sân nhà tù có ánh sáng từ một căn phòng rọi ra. Từ căn phòng đến chỗ nó ẩn không xa cho lắm. Nó nghe rõ hơi thở của bọn người cùng vọng ra.

Có tiếng nói của đàn bà:

– Sư phụ, hôm nay chúng tôi tới thăm sư phụ để hỏi về vấn đề đó. Đã bảy năm rồi còn gì nữa. Mỗi năm vào cuối mùa thu, chúng tôi lại tới thăm người, hỏi lại một lần. Sáu lần trước sư phụ không chịu nói, đến nỗi bị Lục-trúc tiên sinh tra khảo, chân bị tật đi không nổi nữa. Đời người được mấy chốc? Sư phụ nói đi, Lục-trúc tiên sinh sẽ thả người ra.

Đào Kỳ nhận ra tiếng của người phụ nữ mà nó gặp ở quán nước cách đây không lâu. Nó nhớ phụ nữ này còn đi với hai sư huynh nữa.

Có tiếng người già trả lời:

– Mai Huyền Sương, ngươi còn dám mở miệng gọi ta là sư phụ ư? Người cùng Lê Nghĩa Nam, Hoàng Đức Tiết đánh thuốc cho ta mê, bắt nộp cho Lê Đạo Sinh, để tra khảo ta phải khai ra cách luyện nội công tâm pháp của Vạn-tín hầu, cùng bài quyết biến hoá của phái Long-biên. Đời nào ta khai. Ta biết Lê Đạo Sinh muốn có nội công Âm nhu hợp với nội công Dương cương của phái Tản-viên. Y luyện rồi hợp lại để sử dụng Phục Ngưu thần chưởng. Ta đã không khai bảy năm rồi, thì vĩnh viễn ta không khai. Người đừng hỏi vô ích.

Một giọng khác nói:

– Nguyễn Phan! Ngươi không khai, thì rồi ngươi cũng chết rục xương trong nhà tù này mà thôi. Ngươi giữ bí quyết võ cơng mà làm gì?

Tiếng người già nỏi:

– Lê Nghĩa Nam, khi xưa ngươi đến cửa ta bái sơn, được ta thu nhận làm đệ tử, dạy cho ngươi võ công đến trình độ ấy kể cũng hiếm có. Không ngờ ngươi lại đi theo bọn Lê Đạo Sinh, bị ta bắt được, ngươi phản sư môn. Bây giờ người còn dám kêu tên ta nữa sao?

Lê Nghĩa Nam nói:

– Ta kêu ngươi là tên gian tặc. Được, chúng ta rời khỏi đây. Trong ba ngày ngươi sẽ không được cho ăn, cho uống, xem ngươi có gan được nữa không? Ngươi sẽ bị con tỳ, con vị của ngươi nó hành hạ. Sau ba ngày ta sẽ đến hỏi ngươi. Ngươi nói thì ta cho ăn, ngươi không nói thì ta để ngươi chết.

Đào Kỳ thấy cánh cửa mở, rồi ba người đi ra. Đức Hiệp đứng ở ngoài khoá cửa lại. Cả bốn người đi về phía cổng. Đức Hiệp khoá cổng rồi cùng đi.

Đào Kỳ chui ra ngoài hầm, lên khỏi cái ao nhỏ. Nó đến phòng giam Nguyễn Phan, dùng chìa khoá làm ở Cổ-loa cho vào ống mở. Cách một tiếng, ống khoá mở ra, nó kéo xích, đẩy cửa bước vào. Trong phòng có tiếng hỏi sẽ:

– Ai?

Đào Kỳ nhận ra tiếng Nguyễn Phan, nó nói:

– Suÿt! Chớ lên tiếng, tôi tới cứu tiền bối đây.

Nó móc bọc giấy dầu, mở ra lấy đá lửa đánh lên, châm vào ngọn nến. Ánh sáng toả ra, nó thấy một lão già, râu tóc dài xuống tới lưng, bạc trắng như cước, song mặt thì lại trẻ như người năm mươi.Nó biết là Nguyễn Phan, chưởng môn phái Long-biên, bị mất tích đã bảy năm, không ngờ ông bị xiềng hai chân trong hai cái vòng sắt. Nguyễn Phan bị xích vào một cái cột sắt lớn, chôn ở giữa phòng. Trong phòng mùi hôi hám xông lên nồng nặc cực kỳ khó chịu.

Nguyễn Phan thấy Đào Kỳ cởi trần, chỉ mặc một cái quần lót, thì hỏi:

– Chú em làm sao chú có chìa khoá, làm sao vào được đây?

Đào Kỳ phất tay:

– Khoan rồi hãy kể chuyện. Cháu phải cứu tiền bối ra đã.

Nó rút con dao truỷ thủ cắt xích sắt. Nhưng Nguyễn Phan lắc đầu:

– Vô ích cháu ơi. Xích sắt này bằng thép. Lê Đạo Sinh luyện chế đặc biệt để giam tù nhân. Với con dao bằng sắt non thì làm sao cháu cắt nổi. Những xích sắt này, do xưởng luyện kim của quân Hán luyện ra, không đao kiếm nào chặt được.

Đào Kỳ thở dài tỏ ý thất vọng:

– Vậy cháu phải làm sao bây giờ? Cháu đi gọi đệ tử của phái Long-biên kéo đến cứu tiền bối được không?

Nguyễn Phan nói:

– Vô ích, ta có bốn đệ tử, thì ba đứa phản ta rồi. Nay một đứa kéo đến thì ăn thua gì? Vả lại dù cả bốn đứa cũng không phải đối thủ của Lê Đạo Sinh.

Đào Kỳ không chịu:

– Cháu sẽ đi Long-biên, mua cái búa thật tốt về đây, chặt xích cứu tiền bối. Khi chân tay tiền bối cử động được rồi thì còn sợ gì Lê Đạo Sinh nữa?

Nguyễn Phan nói:

– Chân ta bị liệt rồi. ngươi có chặt xích thì cũng không đưa ta khỏi nơi này được đâu.

Nguyễn Phan nghĩ một lúc rồi nói:

– Ừø, lúc cháu vận sức cắt xích sắt, ta thấy cháu sử dụng nội công của phái Cửu-chân. Vậy cháu với hai thằng bé con có hiệu là Cửu-chân song hiệp là chỗ thế nào?

Đào Kỳ thấy Nguyễn Phan gọi bố với cậu mình là hai thằng bé con, nó có vẻ bất mãn.Nhưng nó nghĩ lại ngay:

– Ông này là thái sư phụ của chưởng môn Long-biên là Nguyễn Trát. Mà võ công, tuổi tác Nguyễn Trát đều hơn bố nó, thì ông có gọi bố nó là bé con cũng chẳng có gì là lạ.

Nguyễn Phan dường như hiểu ý nó, nói:

– Ngươi bất mãn à? Ngày xưa Đào Thế Kiệt, Đinh Đại theo thái sư phụ từ Cửu-chân ra Cối-giang, có ở lại trang ta chơi mấy ngày. Bấy giờ chúng nó khoảng 20 hay 21 tuổi gì đó. Ta với thái sư phụ của nó đàm đạo võ công, chúng nó đứng hầu một bên, thỉnh thoảng cũng đối đáp được vài câu.

Đào Kỳ nghe ông kể, bớt bất mãn phần nào:

– Cháu là con út của Đào lạc hầu.

Nguyễn Phan reo lên:

– Hay thực, ngươi là con Đào Thế Kiệt hèn chi nghĩa hiệp. Làm sao ngươi biết ta ở đây vào cứu?

Đào Kỳ kể vắn tắt câu chuyện từ khi rời Cửu-chân đến giờ cho lão nghe.

Lão thở dài nói:

– Như vậy là sau khi ta bị giam, đệ tử của ta tranh giành chưởng môn đánh nhau. Nguyễn Thuật được chức chưởng môn, nhưng chỉ được có năm năm thì nó chết. Hiện con nó là Nguyễn Trát thay quyền. Chà… nguy quá. Nếu bọn Lê Nghĩa Nam, Hoàng Đức Tiết, Mai Huyền Sương trở lại tranh giành chức chưởng môn thì Nguyễn Trát làm sao địch lại?

Chương 8: Thế Sự Du Du Nại Lão Hà

Thế sự du du nại lão hà (1)

(Đặng Dung, Thuật hoài)

Nghĩa là:

Thế sự buồn thay, làm sao bây giờ?

Đào Kỳ thấy Nguyễn Phan tuy thân lao tù, mà lòng còn lo cho môn hộ thì không khỏi động tâm thương cho lão:

– Tiền bối, nếu tiền bối không chịu đọc nội công tâm pháp cho chúng thì chúng sẽ giết tiền bối. Cháu nghĩ: Khổng-tử trông giòng nước chảy mà đưa ra thuyết Tuỳ-thời. Vậy tiền bối hãy giả vờ đọc nội công tâm pháp cho chúng, nhưng cố ý đọc sai đi, sao cho chúng luyện mà không có kết quả, có hơn không?

Nguyễn Phan như tìm được một chân trời mới lạ, ông la lên:

– Ừ nhỉ, có thế mà ta nghĩ không ra. Được ta sẽ đọc sai cho chúng. Này tiểu hữu ơi, ta muốn nhờ ngươi một việc được không?

Đào Kỳ nói:

– Tiền bối muốn nhờ cháu việc gì?

Nguyễn Phan thở dài nói:

– Ta có bốn đệ tử, thì ba phản bội ta, còn có một trung thành thì lại qua đời. Thành ra nội công Âm nhu, bài quyết về biến hoá của phái Long-biên sợ sẽ mai một đi. Ta muốn tiểu hữu hãy chịu khó tập những võ công của ta, rồi mang ra đời, tìm những người có đạo hạnh dạy cho họ, ta có chết xuống suối vàng cũng không đến nỗi tủi hổ với Vạn-tín hầu.

Đào Kỳ lắc đầu:

– Cháu khó mà làm như lời tiền bối dạy được. Vì cháu tập võ Cửu-chân từ nhỏ, thiên về Dương cương. Bây giờ tập nội công Âm nhu e khó thành lắm. Sợ chỉ làm uổng kỳ vọng của tiền bối mà thôi.

Nguyễn Phan nói:

– Cháu không hiểu hết ngọn nguồn, để ta nói cho mà nghe. Võ công Cửu-chân, Long-biên, Hoa-lư vốn cùng một nguồn gốc ở Aâu-lạc mà ra. Nguyên khi xưa An Dương vương dựng nước rồi truyền Vạn-tín hầu Lý Thân, Trung-tín hầu Vũ Bảo Trung, Cao-cảnh hầu Cao Nỗ và chính ngài nữa hợp nhau luận bàn, trao đổi võ công. Tước bỏ những gì phức tạp đi, lập thành võ học Aâu-lạc. Từ đấy võ công Aâu-lạc chỉ có một. Sau khi mất nước thì đệ tử của Vạn-tín hầu lập ra phái Long-biên, của Trung-tín hầu lập ra phái Cửu-chân, của Cao-cảnh hầu lập ra phái Hoa-lư. Có điều các phái trải qua đã 184 năm rồi, nên đời sau thêm thắt vào nhiều sáng kiến mới, do vậy mới khác nhau, chứ sự thực là một. Cháu thử tập xem sao.

Ngừng một lúc, Nguyễn Phan nói:

– Trong các môn phái, thì từ người chưởng môn đến các đệ tử có cùng một thứ chiêu thức, một thứ nội công. Riêng phái Long-biên thì không thế, nội công Âm nhu chia làm hai: Một phần dạy chung cho các đệ tử, một phần chỉ dành riêng cho chưởng môn. Về kiếm pháp cũng thế, các chiêu thì đều tập như nhau. Nhưng giữa những chiêu rời rạc đó, không có những chiêu thức nối liền. Người sử dụng từ chiêu này đến chiêu khác có chỗ sơ hở; ngừng lại, thành ra địch thủ có chỗ mà tránh né. Còn người chưởng môn được dạy một bài quyết, thêm 12 chiêu nữa, những chiêu này nối liên lạc các chiêu rời rạc kia lại, thành ra người sử dụng kiếm cứ kéo thành một sợi, liên miên bất tuyệt. Nhờ nội công, nhờ biến hoá đó, mà trình độ võ công từ chưởng môn đến người đồng môn cách nhau rất xa. Do vậy bọn đệ tử mới phản ta, hy vọng tra khảo, để biết những thứ đó.

Nguyễn Phan bảo Đào Kỳ:

– Ngay ngày mai ta sẽ gọi bọn chúng đến, dạy nội công giả cho chúng. Còn cháu thì ta dạy thực. Cháu hãy lắng tai học thuộc tâm pháp trước đã.

Ông không cần biết Đào Kỳ thuận hay không, ghé tai nó đọc một hồi 18 câu tâm pháp, rồi ông bảo nó ngồi tĩnh toạ, thở hít.

Đào Kỳ không biết làm sao cãi được, đành ngồi vận công như Nguyễn Phan nói. Nó vừa ngồi một lúc thì thấy người lạnh toát. Nó cố vận sức chống đỡ được một lúc thì lại lạnh hơn nữa, cuối cùng nó run lên không chịu được nữa.

Nguyễn Phan nói:

– Giỏi lắm, ngày xưa ta phải tập đến hai năm mới thấy được người lạnh như vậy, mà bây giờ cháu chỉ mới tập hơn một giờ mà đã tiến mau như thế. Chỗ này tai vách mạch rừng, cháu không nên vào nhiều. Cứ mười ngày cháu lại vào cho ta kiểm, rồi lại truyền cho cháu tiếp. Khi nào nội công cháu khá rồi, ta sẽ truyền kiếm pháp cho cháu. Thôi cháu về đi.

Đào Kỳ chào Nguyễn Phan, khoá cửa lại, rồi theo lối cũ trở về thì trời đã gần sáng.

Nó thấy buồn ngủ vội leo lên giường ngủ. Trong giấc ngủ nó thấy người lạnh toát, vội vận nội công Cửu-chân chống lại.

Nội công Long-biên thiên về Âm nhu, nội công Cửu– chân thiên về Dương cương. Đào Kỳ luyện nội công Dương cương từ bé. Khi nội tức đầy, phải chờ một thời gian nội tức phân tán khắp cơ thể mới luyện tiếp được. Nội công phái Long-biên thiên về Âm nhu, luyện có kết quả thì người lạnh toát, phải chờ một thời gian, nội tức phân phối đều mới tiếp được. Nguyễn Phan không hiểu rành về lẽ Âm Dương, cứ dạy Đào Kỳ bừa, nó thông minh tập được ngay. Không ngờ nó tập quá, thành ra Âm hàn nội tức tràn đày. Trong giấc ngủ nó dùng nội công Cửu-chân chống lại. Vô tình cơ thể nó là nơi hợp được Âm Dương mà nó không biết. Nó ngạc nhiên chiều hôm qua thức suốt đêm, mà sao hôm nay lại khoẻ mạnh, yêu đời? Nó vội đến phòng Phương Lan để lau bàn.

Hôm nay Lục Mạnh Tân dạy thêm cho Phương Lan về thuyết Âm Dương. Ông giảng rất lớn:

“… Trong cơ thể con người thì bao giờ Âm Dương cũng phải điều hoà. Hai luồng Âm Dương luôn luôn đấu tranh không ngừng để tồn tại. Đó là lý Âm Dương hỗ tương đấu tranh.

Nhưng trong cơ thể không chỉ có một Âm, một Dương mà tồn tại được. Không có Âm thì cũng không có Dương. Bởi vậy khi Dương mất đi thì Âm cũng không còn chỗ để đối vị nữa, cũng sẽ mất đi. Do vậy người ta mới nói Âm Dương hỗ căn, nghĩa là Âm gốc ở Dương, Dương gốc ở Âm.”

Đào Kỳ như thức tỉnh dậy:

– Nội công của Cửu-chân là Dương, nội công của Long-biên là Âm. Ta tập nội công Dương mãi, đầy trong người, nhưng không có Âm để tựa, thành ra không tiến mau được. Còn nội công của phái Long-biên thì lại Âm hàn, cũng không tiến mau được. Hôm qua sở dĩ ta tập có một giờ mà đã đạt được mức luyện tập hai năm của lão tiền bối Nguyễn Phan vì trong người ta có Dương khí mạnh, ta tập một lúc Âm hàn sinh ra hợp với Dương nhiệt thành một thứ nội tức mới. Trong giấc ngủ, ta thấy lạnh, vận nội công Cửu-chân chống lại, đến sáng thì thấy bình hoà, người khoẻ mạnh thì ra thế.

Đào Kỳ vô tình làm một điều tổng hợp nội công Âu– lạc, mà xưa chỉ có Vạn-tín hầu mới làm được, đến nó là người thứ nhì.

Từ đấy cứ mười ngày nó lại chui đường hầm đến thăm Nguyễn Phan. Hồi sau này ông truyền nội công giả cho bọn phản đồ, nên Lê Đạo Sinh đã sai người tiếp tế thức ăn cho ông ngon hơn. Chúng đã dọn phòng ông sạch sẽ lại, lấy rơm làm cho ông một cái nệm. Chúng cũng cấp chăn, chiếu, quần áo cho ông. Ông biết nếu truyền hết nội công cho chúng, thì chúng sẽ giết ông. Ông bảo với chúng rằng cứ 15 ngày ông sẽ truyền cho mười câu. Chúng tưởng thực, tỏ ra cảm động lắm.

Đào Kỳ tập như vậy được nửa năm, một hôm nó vào thăm Nguyễn Phan, ông đọc cho nó 20 câu nội công tâm pháp cuối cùng và nói:

– Trong 20 câu này, ta cũng không hiểu nốt. Sư phụ ta luyện cũng không thành. Có lẽ xưa kia Vạn-tín hầu tưởng tượng ra, chứ chưa chắc ngài đã tập được. Cháu cứ học thuộc lấy, rồi suy nghĩ, biết đâu cháu chẳng tìm ra được sự thực.

Đào Kỳ thấy cái vòng sắt to bằng ngón tay ở chân Nguyễn Phan, nó cầm lên xem, thuận tay kéo thử, thì chiếc vòng từ từ mở ra. Nguyễn Phan trợn tròn mắt lắp bắp…

– Trời ơi, cháu… cháu kéo ra được à?

Đào Kỳ cũng không ngờ mình có sức mạnh đó, nó cầm cái vòng còn lại kéo thử, cái vòng cũng từ từ mở ra. Nó nhìn lại, hai mối hàn đã mở rộng. Nó không hiểu ở đâu mình lại có sức mạnh như vậy.

Nó tỉnh ngộ nói:

– Cháu hiểu rồi, nội công Aâu-lạc có cả Âm lẫn Dương. Tập một Âm, hay một Dương thì nội tức sinh ra sẽ biến đi, giữ lại rất ít cho cơ thể. Còn cháu tập cả Âm lẫn Dươnng thì Âm Dương hợp lại thành một nội tức mới, thành ra tiến mau như vậy.

Nguyễn Phan than:

– Đúng là mệnh trời! Xui nên ta bị giam, cháu bị tan nát nhà cửa, vào đây cứu ta, rồi hợp làm một. Những nội công ta dạy cháu có sáu tháng mà bằng ta tập trên 40 năm. Lúc đầu ta tưởng cháu thông minh, không ngờ nó ở trong yếu tố Âm Dương. Bây giờ thì nội công của cháu hùng mạnh gấp mười ta. Ta đã từng bẻ cái gông sắt biết bao nhiêu lần mà không thành, nay cháu chỉ kéo một cái đã nhả ra như vậy, thực hiếm có. Này cháu, bây giờ ta có chết cũng yên tâm rồi. Cháu bóp cái vòng lại đi, không thôi bọn phản đồ của ta nó biết, thì nó giết ta. Ta không cần ra khỏi đây, cứ nhàn tản dạy cho cháu hết võ công của Long-biên rồi sẽ ra cũng không muộn.

Từ đấy những đêm Đào Kỳ không vào thăm Nguyễn Phan thì nó thường chú ý theo dõi xem bọn phản đồ tới nhà tù vào lúc nào, theo dõi hành tung của chúng xem chúng có tin những khẩu quyết của Nguyễn Phan truyền cho không. Quả nhiên nó chờ không lâu, hai đêm sau thấy bọn phản đồ mang thức ăn vào nhà tù hơn giờ rồi trở ra. Đào Kỳ lấy khăn bịt mặt rồi theo bén gót. Bọn phản đồ đến dãy nhà số hai, mở cửa đẩy vào. Đào Kỳ núp dưới cửa sổ nhìn, trong phòng đã có Hoàng Đức chờ sẵn.

Hoàng Đức hỏi:

– Thế nào, hôm nay lão quái có truyền nội công tâm pháp cho ba vị không?

Mai Huyền Sươnggật đầu:

– Mười câu nữa! Chúng ta thử mang ra bàn xem sao. Lão quái nói rằng trong khi tập sở sĩ chúng ta không thấy kết quả, là vì tâm trí bị giao động. Khi tập mười câu quyết này tuyệt đối đình chỉ mọi hoạt động.

Hoàng Đức tỏ vẻ không tin:

– Tôi nghĩ lão quái bịa đặt hoặc thay đổi những câu quyết đi chăng? Chứ không lý gì chúng ta tập hằng nửa năm rồi mà không có kết quả gì cả?

Lê Nghĩa Nam nói:

– Chúng ta cần kiên nhẫn. Đây là nội công thượng thừa của bản môn, nếu không khó tập thì tại sao lại chỉ dành cho chưởng môn?

Hoàng Đức nói:

– Vậy ba vị tập thử đi. Còn tôi ngồi đây canh phòng, không cho người ngoài gây tiếng động làm phân tâm quý vị.

Bọn Nghĩa Nam kéo bồ đoàn ngồi nhắm mắt vận công. Còn Hoàng Đức thì ngồi xem. Nhìn Hoàng Đức, nó nhớ lại hôm nó cùng sư tỷ, Giao Chi đến Long-biên giết Hán quân bị y đuổi đến bờ sông. Y chỉ đánh một chưởng, cả ba chị em đỡ không nổi. Rồi y bắt nó như bắt một con rùa dễ dàng. Nó ngẫm nghĩ:

– Người ta bảo Lê Đạo Sinh là đệ nhất cao nhân đương thời cũng không sai. Đệ tử của hắn là Hoàng Đức võ công còn cao hơn bố với cậu ta, thì võ công của hắn không biết cao đến đâu mà kể.

Thình lình Hoàng Đức nhìn về phía nó quát:

– Cao nhân phương nào giá lâm Thái-hà trang, xin bước ra tương kiến.

Đào Kỳ giật bắn người lên. Nó không ngờ nội công của Hoàng Đức lại cao đến thế. Nó đã chú ý qui tức cho thực nhỏ, mà chỉ sơ ý thở mạnh một hơi y đã khám phá ra. Hoàng Đức nhảy vèo tới cửa sổ. Đào Kỳ lùi lại bỏ chạy. Nhưng Hoàng Đức đã đuổi tới sau, y phóng một chưởng vào lưng nó. Chưởng chưa tới nó đã thấy ngộp thở. Biết chưởng này y dùng tất cả công lực, nó không dám coi thường, vội vã nhảy lên cao tránh khỏi. Chưởng phong ào ào dưới chân nó.

Hoàng Đức la lớn:

– Giỏi lắm! Thì ra người là phái Long-biên. Tiếp chưởng thứ nhì của ta!

Nguyên trong lúc hoảng hốt, Đào Kỳ nhảy vọt lên cao tránh chưởng của Hoàng Đức, nó đã dùng tâm pháp Long-biên, nên Hoàng Đức nhận ra. Còn lơ lững ở trên không, nó vận sức Dương cương phát một chưởng đỡ chưởng của Hoàng Đức.

Hai chưởng đụng nhau, bốp một tiếng, nó mượn sức chạm nhau của chưởng nhảy lui. Hoàng Đức loạng choạng lùi lại hai bước, mới đứng vững. Y hoảng kinh hỏi:

– Ngươi là ai? Chưởng vừa rồi của ngươi rõ ràng là chưởng của Cửu-chân, tại sao lại gồm cả Âm lẫn Dương?

Đào Kỳ khâm phục vô cùng, lúc còn ở trên không nó thuận tay phát chưởng của cha nó dạy chống lại chưởng của địch thủ. Còn chân khí tòng tâm phát ra là loại chân khí Âm, Dương tự nó tổng hợp được.

Hoàng Đức thì nghĩ rất nhanh:

– Trong các cao thủ hiện thời, ngoài sư phụ ta ra chỉ có Phong-châu song quái là có chưởng lực đẩy lui được ta mà thôi. Người này thân pháp cực kỳ mau lẹ, còn ở trên không mà phát được chưởng lực đẩy lui ta thì thực hiếm có.

Y nhiều kinh nghiệm giao đấu, nên hít một hơi vận đủ mười thành công lực sử dụng chưởng Dương cương mãnh liệt của Tản-viên là Phục Ngưu thần chưởng nhắm đỉnh đầu Đào Kỳ đánh tới. Đào Kỳ thấy chưởng pháp quái dị, mạnh không thể tưởng tượng được. Nó vội bình tĩnh vận khí phát chưởng Dương cương của Cửu-chân đỡ. Hai chưởng cùng Dương cương chạm nhau bùng một tiếng lớn. Đào Kỳ cảm thấy tay tê dại, nhưng nó vẫn đứng nguyên tại chỗ. Còn Hoàng Đức thì bật văng trở lại, đụng lưng vào tường đến huỵch một cái, lão đão ngã ngồi xuống đất. Khí trong ngực trào lên, y ọc một cái, phun ra búng máu. Biến cố đột nhiên khiến Đào Kỳ cũng không ngờ tới. Nó nghĩ lại một năm trước đây nó bị Hoàng Đức bắt nó dễ như bắt rùa, võ công y cao hơn cha nó nhiều. Không ngờ hôm nay mới đối một chưởng rất tầm thường của Cửu-chân, khiến y thảm bại đến phun máu miệng. Bây giờ nó mới hiểu rằng sở dĩ nó có công lực mạnh như vậy là nhờ tập nội công Âm nhu, rồi nó phối hợp với Dương cương mà thành.

Hoàng Đức cố gắng đứng lên nói:

– Ngươi là ai? Ta phục ngươi rồi. Ta thấy người sử dụng võ công Cửu-chân lẫn Long-biên. Ta biết chưởng môn Cửu-chân là Đào Thế Kiệt, chưởng môn Long-biên là Nguyễn Trát còn thua ta xa, nay ngươi thắng ta. Vậy ngươi là ai? Ngươi có thể nói tên cho ta nghe được không?

Đào Kỳ cười xì một tiếng rồi biến vào trong đêm.

Cách mười lăm ngày sau, nó lại vào nhà tù thăm Nguyễn Phan. Nó kể lại cuộc đấu với Hoàng Đức cho Nguyễn Phan nghe. Nguyễn Phan nói:

– Hoàng Đức là một trong những đệ tử đắc ý nhất của Lê Đạo Sinh, võ công của y cao thâm còn hơn bọn Đặng Thi Sách nhiều, mà cháu thắng y, thì công lực cháu không phải tầm thường. Cháu cố gắng tập một thời gian nữa, thì sợ gì Lê Đạo Sinh!

Nguyễn Phan bắt đầu dạy kiếm pháp Long-biên cho Đào Kỳ. Kiếm pháp Long-biên lấy căn bản là mau thắng chậm, khác hẳn với kiếm pháp Cửu-chân nên Đào Kỳ luyện rất khó khăn. Nhưng vì nó đã luyện nội công Âm nhu nên rồi cũng quen. Chỉ sáu tháng nữa, tất cả các chiêu kiếm của phái Long-biên cùng 72 chiêu trong bài quyết nối liền các chiêu nó đã tập xong. Hàng đêm nó đóng cửa lại luyện kiếm, cứ 15 ngày lại vào nhà tù trình bày cho Nguyễn Phan xem. Nguyễn Phan thấy nó luyện mau có kết quả nói:

– Nếu cháu tiếp tục luyện trong vòng ba năm nữa, thì trong thiên hạ không ai địch nổi cháu.

Nguyễn Phan bảo Đào Kỳ:

– Hôm nay cháu thử kéo cái vòng ra, ta sẽ vịn vai cháu mà đi. Chúng ta thám thính xem nhà tù này có những ai bị nạn.

Đào Kỳ làm theo ông, hai người sang phòng bên cạnh. Đào Kỳ dùng chìa mở khoá ra, hai người vào phòng, lấy đá lửa đánh lên, đốt vào nến. Ánh sáng chiếu khăp phòng, trong phòng cũng có một người cũng bị xích chân như Nguyễn Phan. Người này thấy có người lạ, thì ngồi dậy hỏi:

– Các người là ai? Vào đây có việc gì?

Nguyễn Phan nói:

– Ta vào đây cứu ngươi. Ngươi là ai?

Người kia lắc đầu:

– Người cứu ta không được đâu. Xích to lớn thế này, làm sao mà cắt ra được. Trừ khi ngươi tìm được cái búa thép của Lê Đạo Sinh.

Đào Kỳ dùng hai tay gỡ cái vòng sắt ở chân người đó ra, quả nhiên không được. Vì cái vòng này không hàn lại như cái vòng của Nguyễn Phan, mà là cái vòng đúc bằng thép và to gấp đôi.

Đào Kỳ hỏi:

– Tiền bối có biết cái búa thép đó để ở đâu không?

Người kia nói:

– Chắc là ở phòng Lê Đạo Sinh. Cái búa này xưa kia là vũ khí của thánh Tản-viên. Ngài thường dùng để đẽo núi. Nó là tín vật của chưởng môn phái Tản-viên.

Nguyễn Phan nói:

– Chưởng môn phái Tản-viên là Đặng Thi Kế, vậy búa này ở trong tay y chứ tại sao lại ở trong tay Lê Đạo Sinh?

Người kia thở dài:

– Tiền bối không biết đó thôi, tôi là Đặng Thi Kế đây.

Nguyễn Phan giật mình:

– Ngươi là Đặng Thi Kế à? Thế thì Lê Đạo Sinh chả là sư thúc ngươi sao? Vì cớ gì y giam người vào đây?

Đặng Thi Kế cúi đầu thở dài:

– Sư thúc tôi tham vọng không nhỏ. Người muốn làm bá chủ võ lâm Lĩnh Nam. Người tỏ cho tôi biết: Người muốn các gia, các phái Lĩnh Nam thống nhất lại làm một, do người làm chưởng môn, như xưa kia Thục An-dương vương đã làm. Đầu tiên người đứng ra ngoài sự tranh chấp của Văn-lang, Aâu-lạc, dùng nghĩa hiệp để mua cảm tình của các đại môn phái.

Đào Kỳ nhớ lại những điều đã đọc trong Lục-thao gật đầu:

– Điều này là chính đạo. Khổng-tử nói “Quân tử hoà mà không hùa.” Lê tiên sinh không hùa theo Aâu-lạc hay Văn-lang, đứng ra ngoài kéo cờ hiệp nghĩa, đáng khen. Đó là phương pháp thống nhất bằng vương đạo.

Đặng Thi Kế tiếp:

– Chẳng bao lâu người nổi danh là Lục-trúc quân tử. Môn phái Tản-viên của chúng tôi từ trên xuống dưới đều cúi đầu tôn phục người là Bắc-đẩu, là Thái-sơn. Người lại cho năm đệ tử xuất chính làm huyện uý với người Hán. Do vậy Thái-thú không ngờ vực người, để cho người tự do hành động nghĩa hiệp. Các Huyện-uý đệ tử người không như những Huyện-uý khác chỉ đàn áp dân, cúc cung phụng sự người Hán. Các Huyện-uý xuất thân từ cửa người làm việc luôn luôn che chở cho người Việt, nên dân chúng coi họ là người hiệp nghĩa hơn là quan lại.

Đào Kỳ đồng ý:

– Đúng, cách đây hơn một năm, tôi cùng sư tỷ qua Long-biên, thấy quân Hán tàn bạo, giết người giữa chợ, động lòng nghĩa hiệp, chúng tôi giết tám đứa. Do vậy tôi bị huyện uý bắt về huyện, không tra khảo, không đánh đập, còn cho ăn uống tử tế. Tôi còn được Lê tiên sinh mang về Thái-hà trang cho ẩn náu. Tôi đánh cuộc với người, bị thua, phải làm nô bộc trọn đời cho người. Người đối đãi với tôi rất tử tế.

Đặng Thi Kế nói:

– Tiếng tăm của người ngày càng vang dội. Đến Thái-thú, Thứ-sử cũng phải nể vì. Người có mười đệ tử, thì năm đã ra làm Huyện-uý, còn năm vị người cử đi hành hiệp giang hồ, tìm cách quy tụ dân chúng phiêu bạt, những kẻ lãng tử phạm tội lại, rồi lập trang ấp, cho người thân tín làm Lạc-hầu, Lạc-tướng. Chẳng bao lâu, người có trong tay tới 36 Lạc-hầu quy phục, và 60 động về dưới tay. Người lại giáo dục, kiểm soát các Lạc-hầu, Động-chủ không cho bóc lột dân chúng. Tất cả đều khuếch trương nông nghiệp, ngư nghiệp khiến dân chúng các ấp, trang, động trở nên giàu có.

Nguyễn Phan gật đầu:

– Ta có biết chuyện này, vì những điều đó, tiếng của Lê Đạo Sinh vang tới Trung-nguyên, hoàng đế nhà Hán là Kiến Vũ cũng phải xuống chiếu khen tặng.

Đào Kỳ thêm vào:

– Lê tiên sinh làm những việc đó giống như xưa kia Khương thái công đã làm cho vua Võ vương, từ đó Võ vương dấy nghiệp, lập ra nhà Chu 800 năm dư. Trong Lục-thao có đề cập đến…

Đặng Thi Kế thở dài:

– Thấy sư thúc làm việc nhân nghĩa như thế, chúng tôi vừa là sư điệt, vừa là võ lâm đồng đạo, chỉ biết cúi đầu khâm phục. Nhưng… khi sư thúc đã lên đến đỉnh danh vọng, người muốn tiến xa hơn, là thống nhất võ lâm Lĩnh-nam. Đầu tiên người muốn thống nhất phái Tản-viên trước.

Đào Kỳ gật đầu:

– Tức là Lê tiên sinh áp dụng triết học trong sách Đại-học. Trong sách Đại-học nói rằng “Phàm cái đạo của Đại-học là làm sáng cái đức của mình đã, phải thân với dân, phải hướng đến chỗ tận cùng của việc thiện. Biết như vậy thì mới định được kế, định được kế thì mới có thể tĩnh trong lòng, tĩnh trong lòng thì mới an lòng, an lòng thì mới tư lự được, tư lự thì mới có kết quả. Sự vật đều có gốc rễ của nó, sự gì cũng có đầu có cuối thì gần với Đạo…

Muốn bình thiên hạ thì đầu tiên tu lấy thân. Tu lấy thân rồi mới tề gia. Tề gia rồi mới trị quốc. Trị quốc rồi mới bình thiên hạ.”

Lê tiên sinh thiết kế thực dụng với đạo của Khổng-tử. Tiên sinh nổi tiếng nhân nghĩa thiên hạ, muốn thống nhất võ lâm, thì đầu tiên thống nhất phái Tản-viên trước.

Thi Kế giật mình:

– Này bạn trẻ, sao bạn biết rõ kết hoạch của sư thúc ta như vậy?

Đào Kỳ thản nhiên:

– Tiền bối đừng ngạc nhiên, những điều đó đều chép trong sách của người Trung-nguyên. Người Hán sang đây cai trị chúng ta hầu hết là người xấu, nhưng không phải tất cả. Huống hồ người Hán ở Trung-nguyên còn nhiều người tốt hơn. Những gì cháu trình bày là do một nho sinh người Hán dạy cháu. Ông dạy cháu chỉ vì muốn truyền bá sự hiểu biết mà thôi. Trên đời cháu chỉ quỳ gối tại đền thờ của vua Hùng, tại đền thờ của An Dương vương, và các vị anh hùng thời Âu-lạc. Nhưng cháu đã quỳ gối trước một người Hán, đó là một nho sinh đã dạy cháu những điều vừa qua.

Nguyễn Phan hỏi:

– Cháu bé, người Hán đó là ai vậy?

– Ngài họ Lục tên Mạnh Tân, mới sang Giao-chỉ không lâu.

Đào Kỳ thuật sơ lược vụ gặp Lục Mạnh Tân cho Nguyễn Phan nghe. Đặng Thi Kế khen ngợi:

– Lục tiên sinh không biết võ, nhưng giống như một người hành hiệp giang hồ vậy.

Đặng Thi Kế thuật tiếp:

– Lê sư thúc tìm đến ta để bàn về kế thống nhất phái Tản-viên. Tiểu hữu người có biết về phái Tản-viên của ta không?

Đào Kỳ đã nghe Nguyễn Tam Trinh nói rồi, nó gật đầu:

– Phái Tản-viên cách đây 50 năm bị chia làm hai chi phái, nên dù người nhiều, sức mạnh, vẫn không phản được Hán, phục được Việt.

Đặng Thi Kế thuật:

– Đúng! Ta cầm đầu một chi phái. Một chi phái khác do họ Trưng cầm đầu. Hai bên kình chống lẫn nhau. Lê sư thúc tự đến nhà họ Trưng, đem hết sở trường dạy cho Trưng Trắc, Trưng Nhị, giúp cho hai cô này trở thành cao thủ bậc nhất. Sau đó tìm đến ta, đứng ra hỏi vợ cho con ta là Thi Sách lấy Trưng Trắc. Ngươi thử nghĩ xem, sư thúc ta uy tín biết mấy, mà người đứng ra chủ trì hôn nhân của con ta thì là điều ta cầu mà không được. Sau cuộc hôn nhân thì sư thúc bảo ta truyền chức chưởng môn cho con. Hệ phái kia họ cũng truyền chức chưởng môn cho Trưng Trắc. Thế là phái Tản-viên đã thống nhất. Sợ rằng bên phía họ Trưng có điều dị nghị, sư thúc còn đề nghị rằng, con ta và Trưng Trắc vẫn giữ chức chưởng môn của nhà mình. Còn tổng chưởng môn thì do Trưng Nhị là em Trưng Trắc. Thế là phái Tản-viên của ta trở thành hùng mạnh vô cùng. Ta thầm cảm ơn trời đất ban cho môn phái ta một người sư thúc như vậy.

Ông ngừng lại thờ dài:

– Sau khi truyền chức chưởng môn cho con, ta bỏ Mê-linh về Thái-hà ở với sư thúc để bàn việc thống nhất các phái võ Lĩnh Nam. Ta nhất tâm kính phục sư thúc, nên người nói gì ta cũng nghe, cũng làm…

Cho đến một ngày kia, ta khám phá ra rằng vụ Phong-châu song quái phản sư đệ ta là Nguyễn Thành Công vì chúng được Lê sư thúc bí mật truyền thụ võ công. Sư thúc sai các đệ tử làm Huyện-uý, giới thiệu Song-quái với Thái-thú, để chúng được làm việc tại phủ Tế tác.

Đào Kỳ kêu úi chà:

– Thực là độc địa!

Nguyễn Phan hỏi:

– Sao cháu lại ngạc nhiên?

Đào Kỳ thản nhiên thưa:

– Song-quái phản sư môn thì ai cũng biết. Còn việc Song-quái theo Lê tiên sinh thì không ai biết. Song-quái làm việc cho Tế-tác, thì chúng nhân thiên hạ có thù là thù Nguyễn Thành Công tiên sinh, chứ đâu có ghét Lê tiên sinh. Tức là Lê tiên sinh dùng Giáo Tàu, đâm Chệt. Còn Song-quái làm việc cho Tế-tác chúng biết hết tin tức, tình hình võ lâm cung cấp cho Lê tiên sinh. Mặt khác Lê tiên sinh chiêu mộ các phái, ai theo thì thôi, ai không theo thì tiên sinh cho Song-quái báo cáo với phủ Tế tác, nhờ tay người Hán triệt hạ dùm.

Đặng Thi Kế lắc đầu:

– Sai rồi! Chú em chỉ biết được một mà không biết được hai. Lê sư thúc còn bí mật cài người, chiêu dụ người của các môn phái. Sai những người này làm nhiều điều chống thái thú, để Song-quái thu thập tin báo cáo lên, thái thú sẽ ra tay triệt hạ những đối thủ dùm. Dĩ nhiên Lê sư thúc không cho Song-quái biết những người mà sư thúc cài vào. Song-quái cứ tưởng những người kia tuân lệnh môn hộ họ mà chống Hán, chứ có ngờ đâu do sư thúc sai phái. Trong những người sư thúc cài vào các phái, có ai phản bội, sư thúc dùng Song-quái giết chết để khỏi bị lộ cơ mật.

Ông lắc đầu:

– Ta khám phá ra tất cả những điều đó, mà bàng hoàng cả người. Ta như người ở trên mây bị rơi xuống vũng bùn. Ta khẩn khoản xin sư thúc bỏ việc ấy đi. Sư thúc không những không nghe ta, còn mắng chửi thậm tệ và đuổi ta ra khỏi Thái-hà trang. Trước khi đi, người rót ra hai ly rượu, gọi là rượu vĩnh biệt để từ nay đường ai nấy đi. Ta không biết, uống vào, lát sau say, ngã xuống. Lúc tỉnh dậy thì thấy mình bị giam tại đây.

Nguyễn Phan sực nhớ ra chuyện gì hỏi:

– Ngươi nói rằng các phái đều có người của Lê Đạo Sinh cài vào, vậy phái Long-biên của ta có những ai?

Đặng Thi Kế mỉm cười:

– Thì còn ai nữa, chính là ba đệ tử của ngươi: Lê Nghĩa Nam, Hoàng Đức Tiết và Mai Huyền Sương. Còn phái Cửu-chân thì người chinh phục được năm trong chín vị Lạc-hầu theo Hán. Hai Lạc-hầu chìm đắm vào vòng văn chương, bỏ võ nghiệp. Còn Đào, Đinh trang thì dùng Song-quái vu vạ rằng sắp khởi binh để thái thú mang quân tiêu trừ… Song ta ở trong tù năm năm rồi, thành ra không rõ biến chuyển ra sao.

Đào Kỳ kể sơ lược tình hình bên ngoài cho Đặng Thi Kế nghe, rồi kết luận:

– Nguyễn tiền bối thì Lê tiên sinh giam để biết bí quyết võ công? Còn tiền bối, tại sao Lê tiên sinh không giết, mà lại giam làm chi?

Đặng Thi Kế xoa đầu Đào Kỳ:

– Chú em hỏi câu này thật chí lý. Nguyên vì sau khi Văn-lang bị Thục diệt. Tất cả võ công đều chép thành một bộ sách gọi là Văn-lang võ học kỳ thư thường gọi tắt là Văn-lang võ kinh, cất ở một nơi cực kỳ bí mật, chỉ người chưởng môn mới biết. Người chưởng môn cần phải giữ cây búa của sư tổ truyền lại. Với cây búa đó thì mới mong tìm được võ kinh. Thế nhưng từ bốn đời rồi, thái sư tổ của ta có đến nơi cất dấu võ kinh thì không còn nữa, thành ra cái búa chỉ có tính cách tượng trưng mà thôi. Hiện những ai muốn thành anh hùng vô địch, cần có yếu quyết nội công Văn-lang hoặc Cửu-chân thiên về Dương cương, hợp với nội công Âm nhu của Long-biên. Sư thúc ta biết thế nên bắt giam Nguyễn tiên sinh đây để bắt người truyền nội công Âm nhu cho hợp với nội công Dương cương của phái Tản-viên người đã tập được. Ta biết sư thúc vì muốn thống nhất các phái võ, để khởi binh làm vua Lĩnh-nam. Việc phất cờ thì ai cũng đồng ý, nhưng phương thức thống nhất bá đạo như vậy thì thực là phi đạo đức, trái với hiệp nghĩa giang hồ.

Nguyễn Phan bảo Đào Kỳ:

– Cháu phải trở về tìm cách ăn cắp cây búa của sư tổ Sơn Tinh đến đây cứu Đặng Thi Kế.

Đặng Thi Kế cúi đầu buồn thảm:

– Nguyễn tiền bối! Chậm mất rồi. Sư thúc cho tôi uống thuốc độc, gân cốt nhũn hết, tôi có được cứu ra cũng thành vô dụng. Hơn nữa Văn-lang vũ kinh hiện lưu lạc nơi nào không biết. Tuy vậy người nào được Văn-lang vũ kinh cũng vô ích. Vì khi xưa Vạn-tín hầu chỉnh đốn lại, có chép làm hai bản, một bản trả cho phái Tản-viên, một bản người giữ. Nhưng người chỉ truyền cho đệ tử người những gì về Âm nhu của người, còn những gì về Dương cương của Tản-viên thì trả cho Tản-viên. Tuy người chép, nhưng mỗi câu chép thiếu một chữ. Để nếu người ngoài bắt được, luyện cũng không kết quả. Những chữ thiếu đó, người chế thành bài quyết, phái Tản-viên chỉ truyền cho chưởng môn mà thôi. Bây giờ Đào tiểu hữu ở đây, ta truyền cho ngươi, để một mai nếu có hậu thế nào tìm ra bộ Văn– lang vũ kinh thì tiểu hữu truyền cho họ bài quyết, họ luyện tập sẽ trở thành anh hùng vô địch.

Ông ghé vào tai Đào Kỳ đọc bài quyết dài 40 câu. Đào Kỳ nhẩm một lúc thì thuộc ngay.

Đặng Thi Kế nói:

– Bây giờ tiểu hữu đi tìm búa đi, rồi đến đây cứu chúng ta một thể.

Đào Kỳ đưa Nguyễn Phan về phòng, bóp vòng xích lại như cũ. Khoá cửa các phòng giam, rồi theo đường cũ trở ra. Nó về tới phòng thì đã sang canh năm. Nó vội rửa mặt, xúc miệng rồi đến phòng Phương Lan. Nó nghiệm thấy rằng gần đây Phương Lan không thường ở nhà. Nàng hay dùng xe ngựa đi ngao du các nơi, đến chiều tối mới về. Lục Mạnh Tân cũng không thấy đến giảng sách nữa.

Hôm nay nó chờ Phương Lan đến tối cũng không thấy nàng về. Nó đóng cửa phòng sách rồi đi ăn cơm. Cơm chiều xong, nó định ra phía sau trang ngắm mặt trời lặn thì Đức Hiệp gọi nó:

– Chú em! Chú đi với ta lên gặp Lê lạc hầu.

Đào Kỳ rùng mình:

– Không lẽ Lê Đạo Sinh đã biết những việc của ta, nên gọi để hành tội chăng?

Nghĩ một lát nó biết là không phải. Nếu Lê Đạo Sinh biết những việc đó thì y đã tức tốc giết nó hay giam nó để diệt khẩu, chứ đời nào lại gọi tử tế thế này. Tới cửa đại sảnh, Đức Hiệp hô lớn:

– Văn Lang đến hầu sư phụ.

Lê Đạo Sinh nói vọng ra:

– Cứ vào đi.

Đào Kỳ bước vào thi lễ. Đạo Sinh chỉ ghế cho nó ngồi:

– Cho phép ngươi ngồi.

Chậm chạm một lúc rồi Đạo Sinh nói:

– Văn-lang, người làm thư đồng cho tiểu thư bấy lâu, ngươi có thấy con ta hành động gì khác lạ không?

Đào Kỳ nói ngay:

– Tôi không để ý nên không rõ. Có điều mấy ngày gần đây, tiểu thư thường vắng nhà luôn. Lục tiên sinh cũng không đến giảng sách nữa.

Lê Đạo Sinh nói:

– Con ta và Lục tiên sinh mất tích từ hôm qua.

Đào Kỳ ngạc nhiên:

– Ai mà dám cả gan bắt cóc tiểu thư với Lục tiên sinh?

Đạo Sinh lắc đầu:

– Không ai bắt cóc cả! Nhưng con gái ta đã bỏ nhà trốn theo Lục tiên sinh rồi. Lục tiên sinh tư tình với con gái ta, nó có mang. Tiên sinh sợ ta bắt lỗi, cùng nó trốn đi. Trong trang không ai biết, chỉ có ta với ngươi mà thôi. Bây giờ ta cho người đi tìm về. Vậy ngươi phải kín miệng, việc này lộ ra là ta giết ngươi liền. Ai hỏi ngươi tiểu thư đi đâu, thì ngươi phải nói là tiểu thư đi Mê-linh thăm họ ngoại. Kể từ giờ phút này, ngươi được lên đây hầu cận ta.

Đào Kỳ nghe lời nói ngọt ngào của Lê Đạo Sinh nhưng nó cảm thấy ớn da gà. Nó biết nếu Lê tìm không ra con gái, thì y sẽ giết nó để bịt miệng. Tuy trong lòng biết vậy, nhưng mặt ngoài nó vẫn giả bình tĩnh để qua mặt Lê Đạo Sinh.

Công việc hàng ngày của nó rất bận rộn, vì Lê Đạo Sinh luôn luôn có khách đến thăm. Nó phải bưng nước, hoa quả, rượu mời khách. Những lúc ngồi không nó ôn lại những câu ca khuyết mà Nguyễn Phan, Đặng Thi Kế dạy nó, để sau này nó dạy lại cho người phái Long– biên và Tản-viên. Nó cố gắng tìm dịp lén vào thăm Nguyễn Phan và Đặng Thi kế, nhưng đêm nào nó cũng phải hầu hạ cho tới khuya mới được đi ngủ.

Chiều hôm đó Lê Đạo Sinh bảo nó:

– Ta cho ngươi về phòng ngủ trước, vì đêm nay ngươi phải thức khuya phục thị khách. Từ hôm ngươi hầu ta đến giờ, ta thấy ngươi kín đáo, cần mẫn, nên ta tin tưởng ngươi, mà cho ngươi phục thị đêm nay.

Đào Kỳ nghe Lê Đạo Sinh nói câu đó, nó biết Lê đã theo dõi nó mấy tháng nay. Thấy nó tỏ ra ngu dại chân thật nên cuộc tiếp tân này mới cho nó dự. Nó đặt mình ngủ một giấc, giật mình thức dậy thì trăng đã lên cao. Nó vội vàng chạy lên đại sảnh, đã thấy đèn đuốc sáng choang. Nó thấy đủ mặt mười đệ tử của Lê Đạo Sinh, trong đó có Hoàng Đức, Huyện-uý Long Biên. Trong hai năm qua, nó đã lớn lên rất nhiều. Hoàng Đức không nhận ra nó.

Đức Hiệp bảo nó:

– Chú em! Chú chỉ có nhiệm vụ điều khiển đám nữ tỳ bưng thức ăn từ nhà sau lên đại sảnh, theo lệnh ta mà thôi. Còn mọi chuyện khác đã có người khác làm. Đây, chú nên biết mặt bốn nữ tỳ. Tất cả đều giống nhau bằng chữ Hà: Xuân Hà mặc áo xanh, Hạ Hà mặc áo đỏ, Thu Hà mặc áo trắng, Đông Hà mặc áo đen.

Đào Kỳ nhìn bọn nữ tỳ, đều tuổi ngang nó, người nào cũng xinh đẹp cả. Nó đã nghe nói Lê Đạo Sinh bỏ tiền ra mua những thiếu nữ xinh đệp từ các trang dưới quyền, mang về dạy dỗ cho ca hát, nấu ăn, để hầu hạ. Tuy là con nhà Lạc-hầu, nhưng tính nó bình dị, ngước mắt nhìn các nữ tỳ với vẻ thương xót. Nó nói:

– Các em cứ ngồi đây nghỉ ngơi. Khi có việc, ta sẽ chỉ cho sau.

Nó ngồi phía trong đại sảnh, thấy khách đến lúc càng đông. Cứ mỗi người tới, nó lại cho mấy thiếu nữ bưng rượu, hoa quả ra mời.

Khách dần dần tới khá đông, hầu hết là đệ tử hoặc các Lạc-lầu, Động-chủ của Lê Đạo Sinh. Quan khách được mời vào những chỗ ngồi nhất định. Cuối cùng chỉ có hai chỗ trống, Đức Hiệp đến bên Lê Đạo Sinh nói:

– Chỉ còn thiếu có Lạc-hầu Nghi-sơn mà thôi.

Lê Đạo Sinh gật đầu, rồi tiến đến ghế ngồi chủ toạ. Hoàng Đức đứng dậy hô lớn:

– Đệ tử Thái-hà trang và các Lạc-hầu, Động-chủ tham kiến Lục-trúc tiên sinh, kính chúc tiên sinh thọ tỷ Nam-sSơn.

Lê Đạo Sinh vẫy tay tỏ ý miễn lễ rồi nói:

– Hôm nay ta mời các Lạc-hầu, Động-chủ và đệ tử về để loan báo một việc: Kiến Vũ hoàng đế đã thắng được Vương Mãng, khôi phục Trung-nguyên. Người vừa ban lệnh triệu hồi thứ sử Đặng Nhượng về, bãi bỏ chức Thứ sử Hợp-phố.

Ngừng một lúc, Lê Đạo Sinh tiếp:

– Thái-thú Cửu-chân là Nhâm Diên bị giết, thì ra Nhâm Diên không chịu thi hành chính sách dùng người Việt thay người Hán của Lĩnh-nam công Nghiêm Sơn. Lĩnh-nam công cho Hợp-phố lục hiệp giết đi, và cử Hợp-phố nhị hiệp Lư Dương thay thế. Đô-uý là Hợp-phố tam hiệp Hà Thiên. Còn Đô-sát là Vũ Hỷ. Còn về việc Nam-hải thì Vũ Hỷ sẽ trình bày.

Vũ Hỷ đứng lên nói:

– Thái thú Nam-hải là người khởi nghiệp bằng võ công. Khi Vương Mãng cướp ngôi nhà Hán, y được Vương cho về làm thái thú. Lúc Lĩnh-nam công cùng Hợp-phố lục hiệp kinh lược đất Nam-hải, y thấy bị yếu thế đành theo Hán. Nhưng y vẫn tổ chức quận Nam-hải thành một giang sơn riêng. Gần đây y bị Khúc-giang ngũ hiệp giết chết cùng một lúc với em y làm Đô-uý. Lĩnh-nam công nhân đó cử người thân tín làm Thái-thú, Đô-uý, Đô-sát.

Đức Hiệp thắc mắc:

– Khúc Giang ngũ hiệp là người thế nào?

Lê Đạo Sinh nói:

– Họ người Lĩnh-nam, võ công rất cao cường. Người nào cũng có bản lĩnh ngang với ta, họ đều họ Trần. Trần Ngũ Gia mới thu ba đệ tử người Hán danh tiếng: Một là công chúa Vĩnh Hoà, con gái của Cảnh-thuỷ hoàng đế. Hai là quận chúa Lý Lan Anh, ba là quận chúa Chu Thuý Phượng. Ba người này được ban một thanh thượng phương bảo kiếm của Quang Vũ, được quyền Thượng trảm hôn quân, hạ trảm gian thần. Trần Ngũ Gia dùng kiếm này giết chết thái thú Nam-hải.

Vũ Hỷ tiếp:

– Còn Thái-thú Tượng-quận bị Tượng-quận Tam-anh giết chết. Sau đó Tượng-quận Tam-anh trốn lên Trường-sa đầu quân làm Đô-uý, Đô-sát cho Thái-thú Mã Anh. Lĩnh-nam công lại cử người thân về làm Thái-thú Tượng-quận.

Lê Đạo Sinh nói:

– Trước đây Lĩnh-nam công là ông vua, nhưng không có quyền, các Thái-thú tự do muốn làm gì thì làm. Bây giờ người đã nắm được năm quận trong sáu quận Lĩnh Nam. Các Thái-thú chỉ còn một quyền cai trị hành chánh. Trước đây mỗi quận có một quân 12.500 người và một sư kỵ binh. Mỗi huyện có một sư bộ và một lữ thiết kỵ. Bây giờ Lĩnh-nam công ra lệnh thống nhất tất cả các quận bộ, sư kỵ của các quận trực thuộc phủ Lĩnh-nam công. Còn sư bộ và lữ kỵ của các huyện thì đặt trực thuộc Đô-uý các quận. Nghĩa là Huyện-uý muốn có quân, thì phải trưng dụng của các Lạc-hầu.

Đức Hiệp hỏi Vũ Hỷ:

– Người đứng đầu Hợp-phố lục hiệp là Lưu Nhất Phương, sư đệ có biết là sẽ giữ chức gì không?

Phùng Chính Hoà lắc đầu:

– Đệ không biết. Dường như y được Lĩnh-nam công cho làm Uy-viễn tướng quân, thống lĩnh toàn bộ binh lực Lĩnh-nam.

Lê Đạo Sinh thủng thỉnh nói:

– Chúng ta mưu đồ biết bao nhiêu công lao, mới đưa được Vũ Hỷ làm Đô-sát Cửu-chân, và Phùng Chính Hoà làm Huyện-uý Ngọc-đường. Cộng lại chúng ta có tất cả sáu Huyện-uý, và bốn người làm việc tại phủ Đô-sát Giao-chỉ. Các người ghi nhớ: Chúng ta là người hiệp nghĩa, tuy làm quan với người Hán, nhưng không tham nhũng, không hại người. Các ngươi cần giữ thanh danh chữ Lục-trúc quân tử của ta.

Đào Kỳ chửi thầm:

– Tiên sư con mẹ mày! Mày mưu đồ bẩn thỉu, mà còn lên mặt đạo đức với cả đệ tử nữa. Thực bẩn thỉu hết chỗ nói.

Lê Đạo Sinh tiếp:

– Nghiêm Sơn là một vị đại hiệp người Hán, đến Giao-chỉ với một mục đích giống chúng ta. Chúng ta nên hoà hợp với người, tuyệt đối tránh đụng chạm với người. Mấy năm trước đây, Hoàng Đức có che chở cho một đệ tử danh gia, y là con út của Đào Thế Kiệt, tên Đào Kỳ vì tội y giết chết tám quân Hán. Ta có đem y dấu ở trong trang, dưới hình thức nô bộc, nhưng thực ra ta đối xử với y như con cháu, đệ tử. Ta không hiểu vì lý do nào đó mà Nghiêm công có thiện cảm với Đào Kỳ, nên viết thư bảo ta đưa y về Luy-lâu với người. Ta có viết thư nói rằng ta không hề bạc đãi y, còn cho y học văn, học binh thư, học Bách-gia, Chư-tử nữa, nhưng ta vẫn chưa dám cho y ra mặt, sợ huyện lệnh Long-biên kiếm chuyện.

Đào Kỳ bây giờ mới hiểu tại sao Lê Đạo Sinh lại đối đãi với y như vậy? Thì ra trước đây y có gửi thư cho Nghiêm Sơn, rồi Nghiêm Sơn viết thư cho Đạo Sinh gửi gấm. Nhưng nó nhủ thầm:

– Con mẹ mày tên Lê Đạo Sinh giả nhân giả nghĩa! Ông nội mày biết hết dã tâm của mày rồi. Hôm nay chúng mày diễn kịch khen Nghiêm Sơn, mục đích muốn ông nội mày nói với Nghiêm đại ca, để rồi chúng mày hại Nghiêm đại ca lúc nào không hay. Tổ cha mày! Chúng mày giả nhân giả nghĩa, tạo uy tín hầu làm bá chủ Lĩnh-nam thì cứ việc làm, tại sao chúng mày muốn diệt thiên hạ?

Nó nghĩ thầm, nếu nó không biết vụ Nguyễn Phan, Đặng Thi Kế bị giam thì có lẽ nó đã quỳ gối cung kính coi Lê Đạo Sinh là người anh hùng nghĩa hiệp nhất thiên hạ rồi.

Chú giải

(1) Đặng Dung, Thuật hoài. Câu này ý nói: Cuộc thế xoay vần, khiến cho ta đi đến chỗ khó khăn.

Đặng Dung, người làng Tả Thiên-lộc, huyện Can-lộc, tỉnh Nghệ-an. Không rõ sinh, mất năm nào. Ông là con Đặng Tất. Cả hai cha con đều là anh hùng dân tộc đời Hậu Trần. Đặng Tất giúp vua Trần Giản Định trung hưng nhà Trần, đánh đuổi quân Minh. Sau vua Giản Định nghe lời dèm pha, giết Đặng Tất. Đặng Dung đem quân về Thanh-hoá, tôn Trần Quý Khoáng (1409-1413) lên làm vua. Ông được Trần Quý Khoáng phong chức Bình-chương sự. Ông cầm quân chống với quân Minh. Một lần đánh úp quân Minh ở cửa Hàm-tử, ông lọt vào trướng của Trương Phụ, ông nhảy lên soái thuyền của Phụ, định bắt sống y. Nhưng ông không biết mặt y, nên Phụ trốn thoát. Sau vì quân ít thế yếu, ông bị bắt, giải về Yên kinh. Đi đến nửa đường, ông nhảy xuống sông tự tử chết. Ông là một đại tôn sư võ học đời Trần.

Câu thơ trên trích trong bài Thuật hoài, nguyên văn như sau:

Thế sự du du nại lão hà,

Vô cùng thiên địa nhập hàm ca,

Thời lai đồ điếu, thành công dị,

Vận khứ anh hùng ẩm hận đa.

Trí chúa hữu hoài, phù địa trục,

Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà,

Quốc thư vị phục đầu tương bạc,

Kỷ độ Long-tuyền đới nguyệt ma.

Dịch nghĩa:

Việc đời dằng dặc, khốn nỗi mình đã già,

Trời đất mênh mông chỉ thu vào cuộc hát say.

Gặp thời thì bọn hàng thịt như Phàn Khoái, bọn câu cá như Hàn Tín cũng thành công.

Khi vận đã lỡ, thì người anh hùng cũng nuốt tủi hận.

Giúp vua, có lòng xoay đất, đổi vận.

Rửa gươm, tiếc rằng không kéo nổi sông Ngân Hà.

(Câu này tác giả lấy ý trong bài Tây binh mã của Đỗ Phủ: An đắc tráng sĩ vận Ngân-hà, Tỉnh tây giáp binh trường bất dựng. Nghĩa là: Ứớc gì có được người tráng sĩ kéo sông Ngâ-hà, Rửa sạch giáp binh để mãi mãi không dùng đến nữa.)

Nợ nước chưa đền đầu đã bạc,

Luống tiếc bao phen mài gươm dưới bóng trăng.

Hiện còn đền thờ của cha con ông hãy còn tại Tả Thiên-lộc, huyện Thiên-lộc, Nghệ-an.

Tài liệu chữ Hán

ĐNNTC,

Đồng-Khánh địa dư chí lược,

Can-lộc huyện phong thổ chí,

Thoát hiện vịnh sử.

Chương 9: Người Đâu Gặp Gỡ Làm Chi

Sáng hôm sau Lê Đạo Sinh gọi nó lên đại sảnh đường nói:

– Ngày hôm nay ta phải đi xa một chút việc. Mi ở nhà trông coi văn phòng ta. Ta nhắc lại, ngoài ta và Ðức Hiệp ra, không ai có quyền nói mi, sai mi cả, dù người đó là đệ tử ta, con ta. Ta đã chuẩn bị cho mi một chỗ ở mới. Mi có một đứa nô tỳ để lo giặt quần áo, hầu hạ. Ta đối với mi như vậy là vì có lời gửi gấm của Lĩnh-nam công. Ta vì Lĩnh-nam công mà tha cho ngươi. Bây giờ ngươi là khách của Thái-hà trang, chứ không là nô bộc nữa. Dù sao vai vế ta cũng cao hơn thân phụ ngươi một bậc. Vì vậy ta coi ngươi như cháu của ta. Ngươi cứ tự coi như một công tử của Thái-hà trang, cho đến khi Lĩnh-nam công đón ngươi về Luy-lâu.

Lê Ðạo Sinh đi rồi, Ðào Kỳ thư thả ngồi trong thư phòng của y đọc sách. Sinh là người giao thiệp với các quan lại người Hán nhiều, nên y có đủ mọi thứ sách mà Ðào Kỳ chưa từng nghe thấy. Nó lục trong tủ sách thấy cả những bộ mới nhất như bộ Sư-ký của Tư-mã Thiên gồm 130 cuốn. Nó nghiền ngẫm đọc. Buổi trưa đứa tỳ nữ dọn cơm lên phòng ở mới, đứng hầu cho nó ăn. Nó có cảm tưởng như sống lại hồi còn ở Ðào trang. Ăn xong nó leo lên cái sập bằng gỗ gụ bóng loáng của Lê Ðạo Sinh vẫn nằm ngủ, nằm thẳng cẳng đọc sách. Ðọc đến đoạn Khoái Văn Thông ra chợ ôm xác Hàn Tín khóc, nó khoái quá co chân đạp bình bịch lên tường. Ðạp được mấy cái, nó cảm thấy tiếng tường kêu có cái gì hơi khác lạ. Nó bò dậy gõ tay vào tường, thì thấy dường như tường bằng gỗ, bên trong rỗng. Nó nhìn kỹ, thì ra cái sập gụ đè vào một cái cửa, có khoá chìm vào trong. Nó nhìn kỹ thì thấy lỗ ống khoá hơi giống với ống khoá cổng nhà tù. Nó vội về phòng lấy chìa khoá cho vào ống mở thử thì thấy không lọt. Nó rút con trủy thủ gọt chìa khoá một tý, cho vào ống thì vừa lọt. Nó vặn thử thấy không chuyển, nó vận sức vặn mạnh, thì nghe tiếng cốc khoá mở ra. Nó mở cánh cửa, bên trong là một phòng nhỏ, nó chui ngay vào, thì thấy nào vàng, nào bạc, nào ngọc ngà, châu báu không thiếu gì. Nó còn thấy một thanh kiếm nặng chịch đen thui thủi, nó cầm lên múa thử, nghĩ:

– Công lực của ta bây giờ vừa Âm, vừa Dương, ta thừa sức múa thanh kiếm này.

Nó tìm tiếp, thì thấy một cái búa bổ củi, đen và nặng. Nó cầm lên xem, tự hỏi:

– Không biết có phải búa lệnh của phái Tản-viên hay không đây?

Nghĩ đến mưu đồ xảo trá của Lê Ðạo Sinh, nó phát ghét. Nó quyết định lấy hết của cải y. Nó ôm cả búa, lẫn kiếm, cùng vàng, ngọc ra khỏi căn phòng nhỏ khoá lại như cũ. Ðợi trời tối nó mang ra ao, lặn xuống dưới, đi vào trong hầm, lấy búa khoét một lỗ trên cao không có nước, cất tất cả vào đấy. Về nhà, nó đem chìa khoá ra sân, dấu dưới bụi cây, cười thầm:

– Lê Ðạo Sinh tưởng ta là đứa trẻ con không đề phòng. Ta lấy hết kho tàng của hắn, chắc hắn nghi cho người khác, chứ đời nào nghi ta. Dù có nghi, nó cũng không có chứng cớ bắt tội ta. Ta cần phải đóng kịch cho cẩn thận mới được.

Vì được tự do, nó lấy cây côn đồng của Cao Cảnh Hầu vác theo, thuê xe ngựa lên Long-biên chơi. Cầm cây côn trên tay, nó thấy khắc tên các vua Hùng từ đời 16, cho đến thứ 18 rồi tên Sơn Tinh, Lý Thân, Vũ Bảo Trung, Cao Nỗ… Nghĩa là có tên tất cả những người đã sử dụng. Nó tự cho mình có duyên với côn, cầm côn đến một cửa hàng thợ rèn nói:

– Tôi muốn khắc chữ vào côn, chú có làm được không?

Người thợ rèn cầm cây đùi gõ vào côn mấy cái rồi nói:

– Ðược chứ. Cậu muốn khắc chữ gì nào?

Nó chỉ vào chỗ kế cạnh chữ Cao Nỗ nói:

– Tôi muốn khắc chữ Ðào Kỳ vào đây.

Người thợ gật đầu, cho một đầu gậy vào lò đun nóng lên, một lát đầu gậy đỏ lừ. Anh ta lấy cái dùi thép khắc vào chữ Ðào Kỳ thực đẹp, rồi nhúng đầu gậy vào nồi nước cho nguội. Ðào Kỳ cầm đầu gậy lên coi, thấy chỗ đốt hơi cháy xém một chút nó tự an ủi:

– Ta dùng cát đánh thì lại sáng như thường.

Nó ôm gậy, trả tiền, đánh xe ra bờ sông chỗ trước đây Thiều Hoa, Giao Chi và nó giao đấu với Hoàng Ðức, rồi nó bị bắt, để nhìn lại chỗ cũ. Thấy bờ sông có cát, nó ngồi xuống đánh sáng đầu gậy. Chợt thấy cái chụp tròn ở đầu gậy chuyển động, nó bật ra tiếng kinh ngạc:

– Thì ra gậy rỗng, hai đầu có hai cái mu tròn, hoá ra cái nắp gậy. Thợ rèn đun nóng lên, cái chụp tròn tách ra.

Nó dùng đao trủy thủ cạy khẽ một cái, cái chụp bong ra. Nó nhìn vào bên trong, bất giác nó ngây người: Cây gậy rỗng thực, bên trong để đầy những tấm thẻ bằng đồng. Nó lấy ra xem thì thấy tất cả 200 cái, trên các thẻ khắc chi chít những chữ và đồ hình khác nhau. Nó lựa ra thấy 40 cái vừa to vừa dài, 40 cái dài, 40 cái to và 80 cái ngắn nhỏ.

Nó lựa 40 cái dài ra xem thấy đánh số thứ tự từ 1 đến 40. Nó đọc qua thấy dạy cách thở, hít, luyện công. Bỗng trống ngực nó đập mạnh vì rõ ràng đó là nội công Dương cương của phái Cửu-chân. Nó tiếp tục đọc nữa lại thấy cách luyện nội công Dương cương của phái Tản-viên. Nó đọc xuống những cái cuối cùng là cách luyện nội công của phái Sài-sơn và Hoa-lư. Nó nghĩ thầm:

– Ai đã khắc những thẻ này mà lại có nội công Dương cương của tất cả các môn phái Lĩnh Nam?

Nó lấy 40 cái thẻ đồng lớn ra đọc, trong dạy đánh kiếm. Ðọc một lúc nữa nó thấy rõ ràng đây là kiếm pháp Cửu-chân. Nó đọc sang 80 cái thẻ nhỏ, ngắn dạy người ta làm nỏ liên châu. Nó ngưng lại để thở, nó cảm thấy như muốn nghẹt thở vì biến chuyển. Nó lấy 40 cái thẻ đồng lớn, dài ra thì trong đó người ta dạy chưởng pháp.

Nguyên cây gậy đó tượng trưng cho uy quyền của các vua Hùng. Sau về tay phò mã Sơn Tinh. Sơn Tinh tụ tập võ công của Phù-đổng Thiên-vương với võ công của ông chép vào những thẻ đồng cất trong đó. Sau cây gậy thuộc về Vạn-tín hầu Lý Thân. Trong lúc Âu-lạc đại hội thống nhất võ thuật, Vạn-tín hầu mới nghĩ đến quy tụ hết tinh hoa võ thuật khắc vào các thẻ đồng, cất trong gậy để lưu truyền cho đời sau. Ðầu tiên ông chép 36 chiêu Phục ngưu thần chưởng Dương cương của Sơn Tinh, và 36 chiêu Âm nhu của ông cùng cách biến hoá vào 40 cái thẻ đồng to, dài. Ông tổng hợp cách luyện nội công Dương cương của Sơn Tinh với Âu-lạc làm một, rồi chép với nội công Âm nhu của ông vào 40 cái thẻ đồng dài. Kiếm pháp Âm nhu của ông mà ông đã thắng được phò mã Sơn Tinh thì ông đem chép vào 40 cái thẻ đồng to, nhưng ngắn. Cuối cùng ông chép cách chế nỏ thần của Cao-cảnh hầu vào 80 cái thẻ đồng nhỏ và ngắn. Sau đó ông sai hàn hai đầu gậy lại. Khi ông tự vận, đệ tử của ông là Trung-tín hầu Vũ Bảo Trung học được nội công Dương cương, sau lập ra phái Cửu-chân. Ông đem nội công âm nhu dạy cho con ông là Lý Ðức, lập ra phái Long-biên. Vì vậy nội công Dương cương của phái Cửu-chân với phái Long-biên có nhiều phần giống nhau từ nguyên thủy. Trải qua 200 năm, các đời sau thêm thắt, sửa đổi đi thành ra nội công hai phái Cửu-chân, Tản-viên càng khác nhau nhiều. Những điều ngoắt ngoéo như vậy, làm sao Ðào Kỳ hiểu được.

Ðào Kỳ ngắm một đống thẻ đồng ngẫm nghĩ:

– Ai là người đã khắc các thẻ đồng này ta không cần biết. Nhưng trong có đủ võ công của Cửu-chân, Tản-viên và Long-biên ta cứ tập hết đã rồi sau này gặp Nguyễn Phan ta sẽ nhờ ông giải thích cho. Còn chưởng pháp trong 40 cái thẻ đồng lớn, dài này là chưởng gì? Trước đây cha ta bảo rằng muốn luyện tập võ công gì chăng nữa thì phải tập nội công trước. Như hôm trước ta sử dụng một chưởng tầm thường, nhưng nội công cao, đánh Hoàng Ðức bị thương nặng. Những võ công này, ta phải dấu cho cẩn thận, nếu không thì bị lấy mất. Ta đang ở Thái-hà trang, lúc nào Lê Ðạo Sinh cũng rình mò ta, vậy ta phải dấu chỗ khác mới được.

Nó chợt nhớ trong trang Thái-hà có đền thờ Hùng vương:

– Bây giờ tập nội công trước, thì chỉ mang theo trong người những thẻ này thôi. Còn bao nhiêu ta cho vào cây côn này, chôn ở phía sau đền. Thường thường, ngày nào ta cũng đi lễ vua Hùng, thì ta có ra đó tập võ, hay lấy thẻ đồng cũng không ai nghi ngờ. Hà… ta cầm côn ở đền thờ Cao-cảnh hầu biểu diễn võ, rồi bị Song-quái bắt đi, mang cả côn theo. Hoàng Ðức bắt ta cũng bắt cả côn, Lê Ðạo Sinh đem ta về trang cũng tuyệt không chú ý đến cây côn… Họ đâu có ngờ trong côn lại cất dấu những võ công kỳ diệu này?

Từ hôm xảy ra vụ nó đánh Hoàng Ðức bị thương đến giờ, trong trang canh gác cực kỳ nghiêm mật. Nó lén nghe Lê Ðạo Sinh với Hoàng Ðức bàn với nhau rằng có lẽ một cao thủ nào đó của phái Cửu-chân hay Long-biên đến thám thính Thái-hà trang.

Trong khu vực trại tù, tối đến đều có người canh gác, bên ngoài bên trong xích hàng chục con chó, nên nó không dám mang búa vào cứu Ðặng Thi Kế. Nó xuống hầm lấy hết ngọc ngà, châu báu, kiếm búa đem chôn ở đền thờ Hùng vương. Vì nó nghĩ, biết đâu tung tích của nó bị khám phá, rồi Lê Ðạo Sinh cho người xuống hầm dò xét, tìm ra những thứ kia thì sao.

Nó tiếp tục luyện tập nội công trong các thẻ đồng. Cho đến một đêm kia nó luyện đến tấm thẻ cuối cùng. Từ đấy cứ mỗi đêm nó luyện lại từ đầu đến cuối. Trong thẻ ghi rõ: Nếu cứ tiếp tục luyện mỗi ngày hai giờ, thì trong vòng một năm được một thành. Ðến trình độ một thành thì tay không đánh chết hổ trên rừng. Nhưng trước đó nó đã luyện tập hàng chục năm Dương cương và hơn một năm Âm nhu với Nguyễn Phan. Bây giờ nó luyện cả hai thì đã được hai thành rồi. Nhưng nó biết hợp Âm Dương làm một nên công lực lên tới bốn thành. Nếu một ngày kia nó luyện được muời thành thì nó sẽ là hai người khác nhau, mạnh không biết đến đâu mà kể. Nó ra đền thờ Hùng vương đào 40 thẻ lớn, dài lên luyện chưởng pháp trong đó. Nó thấy bốn tấm thẻ đầu dạy tổng quát cách vận khí, thấy trong đó dạy vận khí cả Âm lẫn Dương. Còn 36 thẻ còn lại một mặt dạy luyện chưởng Dương cương, một mặt luyện chưởng Âm nhu. Hai chưởng khắc chế nhau. Nó không biết luyện chưởng nào tiếp.

Ðệ tứ Thái-bảo Sài-sơn đã nói với nó rằng Phục ngưu chưởng có 36 chiêu. Gốc do Sơn Tinh chế ra có 36 chiêu Dương cương. Cần phải tập nội công Dương cương mới sử dụng được. Sau đó Vạn-tín hầu thắng Sơn Tinh nhưng vẫn tiếc chưởng pháp kỳ diệu, mới nhân đó chế ra 36 chiêu Âm nhu khắc chế lại Dương cương. Thành ra Phục ngưu chưởng mỗi chiêu có một Âm một Dương. Phục ngưu thần chưởng nếu sử dụng từng chiêu một cũng đã mạnh không tưởng được, nhưng địch thủ có thời giờ vận chưởng chống lại được. Nếu biết sử dụng cả 36 chưởng thì chưởng nọ nối với chưởng kia thành một dây liên miên bất tuyệt, đối thủ không thể nào chống lại được. Vạn-tín hầu có thể sử dụng một dây Dương hoặc Âm, mà không thể tự ý đang Âm đổi thành Dương, hoặc đang Dương đổi thành Âm. Có lẽ chưởng pháp này là Phục ngưu thần chưởng, nên mới có chiêu Âm Dương đối nghịch nhau. Không biết ta nên tập loại nào trước?

Gốc võ công của Ðào Kỳ là Cửu-chân thuộc Dương cương nên nó quyết định luyện các chiêu Dương trước. Trước hết nó đọc qua một lượt thì nghiệm thấy rằng có thể tập riêng rẽ từng chiêu mà không cần theo thứ tự. Tính nó ưa những sự kỳ ngộ ngẫu nhiên, nên rút một thẻ tập đầu tiên thấy mang tên Ác ngưu nan độ. Chiêu này để chống lại một con trâu hung dữ, đứng giữa đường không cho người đi qua. Chiêu thức bắt khí tụ vào đan điền, rồi chuyển ra tay phải. Tay phải từ phía sau chuyển qua hông đẩy thẳng về trước. Còn tay trái đánh xéo từ trên đỉnh đầu trái trở xuống. Kình lực hai tay một đánh thẳng vào đầu đối thủ, một đánh tạt ngang vào phía phải đối thủ.

Nó vận kình lực thử, thấy chân khí tụ vào đầu bàn tay muốn rung lên. Nhưng chưởng phát không ra. Nó vội đứng dậy, vận khí lại hướng vào cây thông gần đó phóng chiêu. Thì chưởng phong xoáy vào nhau, nhưng kình lực vẫn chưa phát ra được. Nó tự biết, Phục ngưu thần chưởng luyện tập cực kỳ khó, nên nó tiếp tục vận khí luyện mãi, tới chiều thì nó vận khí đánh vào một cây thông to bằng bắp tay, rắc một cái, cây thông đổ xuống.

Nó mừng quá, đứng im tụ chân khí, phát chiêu lần thứ nhì hướng gốc cây, lần này kình lực mạnh hơn, cây bị tiện đứt bằng từ gốc. Lần đầu tiên luyện được một chưởng kỳ lạ, nó luyện suốt đêm không thiết nghỉ.

Ðược cái hồi này Lê Ðạo Sinh đối đãi với nó như khách, nên nó trốn đi luyện chưởng không khó khăn gì. Cho đến một hôm nó luyện được hết 36 chưởng Dương cương. Bấy giờ nó mới học đến bốn cái thẻ dạy biến hoá. Tức đang từ chưởng này chuyển sang chưởng kia liên miên bất tuyệt, khiến đối thủ không biết đâu mà lường.

Nó đem các thẻ đồng cho vào côn, đổi lấy các thẻ đồng dạy về Âm chưởng ra học thuộc yếu quyết rồi luyện sau. Nó nghiệm thấy các chiêu Âm nhu khó sử dụng vô cùng. Nhưng chiêu số phát ra mau hơn Dương cương. Các chiêu Âm nhu thường đợi chiêu Dương cương phát rồi, mới phản lại. Nhưng chiêu ra sau mà lại tới trước. Nó luyện chiêu Ác ngưu nan độ Âm nhu đầu tiên. Nó luyện suốt một ngày mà không phát ra. Khiến nó phải ngồi suy nghĩ:

– Tại sao ta phát chiêu không ra?

Trong yếu quyết có nói Tâm an, khí tĩnh, lực sinh nó không hiểu nổi. Nó ngồi thừ ra hỏi “Tâm an là gì?” Nó chợt nhớ đến bài ca khuyết Ðặng Thi Kế dạy nó “Tâm an là giữ sao cho người tự nhiên, khí không chuyển động, giống như người ngủ vậy.” Nó thử trấn nhiếp tâm hồn cho Tâm an thì quả nhiên Dương khí thu về hết, bây giờ nó vận khí, thì thấy khí chuyển cuồn cuộn, nó hướng tay phát chưởng thì bịch một cái chưởng đánh vào thân cây êm ái, nhưng cây rung lên tiếng vọng đi rất xa. Bây giờ nó mới hiểu:

– Thì ra ngày xưa Vạn-tín hầu chép Phục ngưu chưởng vào thẻ đồng, sợ người ngoài luyện được, ngài chép bằng những thuật ngữ khó hiểu, rồi ngài đặt ra ca khuyết để truyền thuật ngữ đó cho đệ tử mà thôi. Vì vậy người nào dù bắt được võ công, nếu không có ca khuyết cũng vô ích.

Nó thấy Âm kình đánh vào thân cây còn ác độc hơn Dương kình nhiều. Nó luyện đến chiều, lại trở về Thái-hà trang. Nó chú ý thấy nhà tù không còn cho gác bên ngoài, trong không có người canh giữ nữa. Nó ăn cơm xong, chờ cho mọi người đi ngủ, mang búa lệnh của phái Tản-viên, chìa khoá, chui xuống hầm ngoài bờ ao.

Ra khỏi hầm, nó tiến về phòng giam Nguyễn Phan, mở khoá, đẩy cửa bước vào. Nó cảm thấy nghẹt thở, vì có người phóng chưởng đánh nó, chưởng lực thuộc loại Dương cương rất quen thuộc. Trong nhất thời, nó chưa phân biệt được chưởng pháp nào. Phản ứng tự nhiên, nó vận sức đẩy ra một chưởng chống lại. Nội công của nó bây giờ đã đạt tới bốn thành hoả hầu, nên chưởng của nó hùng mạnh vô cùng. Bùng một cái, người nó rung động, ngực muốn nghẹt thở. Còn người đánh nó kêu ái chà một tiếng lộ vẻ khủng khiếp.

Nó phân biệt người phóng chưởng này công lực mạnh hơn Hoàng Ðức rất nhiều. Nó cũng nhận ra nội công của đối thủ với nó cũng thuộc Dương cả. Người kia cũng nhận thấy thế, phát chiêu thứ nhì, miệng nói:

– Ngươi là ai? Tại sao lại sử dụng võ công Cửu– chân, mà nội lực lại của phái Tản-viên nhà ta? Tiếp chưởng thứ nhì!

Vừa rồi thuận tay nó phát chưởng Cửu-chân, mà lại nội lực Dương cương giống như của Tản-viên, thành ra uy lực không mạnh cho lắm. Tuy nhiên nó chỉ phát chiêu theo lối phản ứng tự vệ, mà người kia thì tấn công, thế mà cũng ngang tay nhau, thì rõ ràng nó thắng người kia rồi. Nó biết đối thủ trước mặt là một đại cao thủ, kiến thức rất rộng, nên phân biệt được cả chưởng pháp lẫn nội công của nó. Biết vậy, tính trẻ con nổi dậy, nó muốn làm cho đối thủ hoang mang, không biết nó là ai, nó vận nội công trong côn đồng, phát chiêu trong côn đồng.

Bùng một tiếng, người kia lùi trở lại. Còn nó thì ung dung như thường. Người kia thở dốc hỏi:

– Ngươi là cao nhân phương nào? Nội công của ngươi vừa giống Cửu-chân vừa giống Tản-viên. Còn chưởng pháp của ngươi rõ ràng là Phục ngưu thần chưởng, chiêu Thanh ngưu nhập điền.

Nó vẫn không lên tiếng, nhảy lùi lại đàng sau ra khỏi phòng, người kia theo sát nó như bóng với hình. Nó vọt lên mái nhà, người kia cũng vọt theo. Từ mái nhà nó nhảy ra khỏi hàng rào nhà tù, khi còn lơ lững trên không, nó đã nghe tiếng đàn bà nói:

– Giỏi! Tiếp một chưởng của ta.

Người đó đứng dưới đất phóng ngược chưởng trở lên đánh vào nó. Chưởng lực mạnh ngang với Hoàng Ðức. Nó phận biệt được chưởng pháp, chiêu số của mụ cùng với Hoàng Ðức và người đối chưởng với nó trong nhà tù. Còn lơ lững trên không, bị người đàn bà phóng chưởng đánh nó, trong khi có một người cũng từ nóc nhà nhảy theo phóng chưởng vào lưng. Tiền hậu thọ địch, nó vẫn không sờn lòng, vận toàn lực nội công Âm Dương mà nó tổng hợp được, tay phát chiêu Lưỡng ngưu tranh phong. Chiêu này hai tay đánh về hai chiều ngược nhau, để đẩy hai con trâu đang húc nhau ra. Nhưng nó lại ấy sức của chưởng lực người trên mái nhà và của nó chuyển về phía dưới. Người đàn bà phía dưới tuy gặp nguy hiểm nhưng kinh nghiệm nhiều, mụ thấy chưởng lực của nó vừa Âm vừa Dương ào ào đổ tới, lại thêm chưởng lực phía sau bị nó đẩy xéo vào người. Mụ biết nguy hiểm trong đường tơ kẻ tóc, đẩy cả hai chưởng về phía trước, mượn đà nhảy lui trở lại. Người mụ bắn vọt về sau đến mười trượng. Mụ không dám đứng, thuận đà lăn đi mấy vòng để giải lực đổ vào người mụ.

Tuy thoát chết, nhưng mụ cũng hú hồn. Mụ quát lên một tiếng thực lớn, vọt dậy hỏi:

– Mi là ai?

Ðào Kỳ không trả lời, tay cởi khăn trên cổ xuống bịt mặt lại. Ðứng im nhìn đối thủ.

Bây giờ nó mới nhận ra người đấu chưởng trong nhà tù với nó là một người đàn ông thân thể cao lớn. Còn người đàn bà dưới đất nó nhận ra khổ người trung bình. Trong đêm tối, nó không nhận rõ được mặt hai người. Nguyên người đàn ông đấu chưởng với Ðào Kỳ trong nhà tù là Chu Bá, đệ tử thứ hai của Lê Ðạo Sinh, còn người đàn bà dưới đất đánh Ðào Kỳ là Lê thị Hảo, con gái lớn của Lê Ðạo Sinh, vợ của Chu Bá.

Chu Bá thấy nội công Ðào Kỳ thâm hậu, chiêu số rõ ràng là của Tản-viên, y đoán là Phục ngưu thần chưởng, song y không biết đó là chiêu gì. Y đâm kính phục và nghĩ:

– Người này thân pháp tuyệt diệu, nội công nửa Dương, nửa Âm, võ công khi thì Cửu-chân khi thì Tản– viên. Một mình y đấu với hai vợ chồng ta vẫn coi như không, thì y quả là phi thường. Ta đã lăn lộn võ lâm lâu rồi, mà không hề nghe thấy có cao nhân nào như y cả, vậy y là ai? Chắc chắn y phải quen với ta, nếu không tại sao y lại che mặt?

Y tỏ vẻ khách sáo hơn đôi chút:

– Thân thủ các hạ như thế này thì cũng dễ biết thôi, hà cớ gì không lên tiếng và không cho chúng tôi biết mặt? Tại sao các hạ lại vào chỗ cấm địa của Thái– hà trang?

Ðào Kỳ giả tiếng khàn khàn đáp:

– Vậy người vào đây để làm gì?

Chu Bá đáp:

– Ta vào có chuyện riêng của ta.

Ðào Kỳ cũng trả lời:

– Ta cũng vào có chuyện riêng của ta. Giữa chúng ta không thù, không oán, hà cớ phải đánh nhau nữa, ngừng quách cho rồi.

Lê Thị Hảo nói:

– Như thế cũng được.

Ðào Kỳ cười gằn, nhảy lên nóc nhà tù định vào cứu Nguyễn Phan và Ðặng Thi Kế.

Chu Bá nói:

– Ngươi định vào cứu người à? Vô ích. Những người ở đó đã bị đưa đi từ lâu rồi.

Ðào Kỳ thất vọng hỏi:

– Ngươi có biết họ bị đưa đi đâu không?

Lê Thị Hảo đáp:

– Biết thì ta biết rồi, cách đây mấy ngày, họ được đưa lên nhà tù Long-biên, biệt giam rồi. ngươi có tài thì lên đó mà cứu họ. Ta nói cho ngươi biết, nếu ngươi vừa đột nhập vào nhà tù, thì những người đó sẽ bị giết liền. Vậy ngươi đừng mạo hiểm cứu họ, hoá ra giết họ.

Thình lình có tiếng hú vang dội, rồi một đàn chó chạy ra. Xung quanh đèn đuốc chiếu sáng loà. Ðào Kỳ thấy hàng trăm tráng đinh cầm vũ khí bao vây phía ngoài. Phía trong thì Ðức Hiệp, Hoàng Ðức, Lê Thị Hảo, Chu Bá bao vây nó vào giữa.

Nó lẩm bẩm:

– Ta bị bao vây rồi. Giữa bốn đại cao thủ, làm sao ta thoát nạn đây?

Nó nhìn về phía ngoài vòng vây, thấy Lục Mạnh Tân cùng với Phương Lan đang đứng quan sát, dường như lơ đãng với việc bao vây người.

Tin vào thái độ quân tử của Lục tiên sinh, nó hường về ông, giả giọng khàn khàn:

– Lục tiên sinh.

Lục Mạnh Tân cùng vợ vào trong vòng vây hỏi:

– Ngươi là ai? Sao lại biết tên ta?

Ðào Kỳ nói:

– Ai ở Long-biên mà không biết tiên sinh. Tôi hỏi tiên sinh điều này, mong tiên sinh chủ trì cho: Bốn người vây tôi, còn thêm tráng đinh với một đàn chó, như vậy là anh hùng hay không?

Lục Mạnh Tân nói:

– Dĩ nhiên là không!

Ông quay lại nói với bốn người:

– Bốn vị là đệ tử của Lục-trúc tiên sinh, nổi danh khiêm khiêm quân tử. Tại sao lại dùng bốn người đánh một, còn thêm tráng đinh với chó nữa? Các vị hãy một đánh một, được thì là anh hùng. Còn thua thì về xin sư phụ dạy lại, phục thù sau. Thái-hà trang chúng ta, thà chết chứ không chịu mất tiếng anh hùng hảo hán.

Ðức Hiệp nói:

– Cách đây ít lâu, Lục-trúc tiên sinh biết trong trang có cao thủ ẩn náu, lại khám phá ra bị mất rất nhiều vàng bạc, châu báu, mà không rõ ai là thủ phạm. Sau đó xảy ra vụ Hoàng Ðức bị người lạ mặt đánh trọng thương. Tiên sinh biết có người ẩn náu trong trang mưu đồ cứu bọn Nguyễn Phan, Ðặng Thi Kế và Nguyễn Thành Công, nên nhờ ta tới ẩn trong nhà tù. Chúng ta chờ hắn từ lâu mà hắn không ngờ, hôm nay hắn tự chui đầu vào bẫy, bị chúng ta bao vây, chúng ta phải bắt trộm nộp sư phụ.

Ðào Kỳ giật mình, nó tự biết rằng mình đã lọt vào bẫy, thì chỉ còn nước tử chiến mà thôi. Nó quyết định dùng võ công Cửu-chân, cho chúng không biết đường nào mà mò.

Nó hú lên một tiếng thật dài, vung quyền tấn công Ðức Hiệp. Ðức Hiệp thấy thế quyền mạnh, lùi lại một bước phản đòn. Nó chuyển quyền sang phía Hoàng Ðức. Hoàng Ðức phát chưởng đỡ. Thuận tay nó đẩy chưởng của Hoàng Ðức về phía Chu Bá. Chu Bá vận sức phóng chưởng đánh vào thượng lộ nó. Nó chuyển tay phải đỡ. Thế là bốn đại cao thủ bao vây nó vào giữa. Ðào Kỳ tuy học được nội công hùng mạnh, võ công của Tản-viên, nhưng chưa kinh nghiệm chiến đấu, thành bốn người chiếm được thượng phong. Hoàng Ðức thấy dùng toàn võ công Cửu-chân thì ngạc nhiên hỏi:

– Ta tưởng mi là ai, hoá ra mi là đệ tử của Cửu-chân. Ta thấy võ công ngươi còn hơn Ðào Thế Kiệt gấp bội, vậy ngươi là ai?

Ðào Kỳ vẫn giả tiếng khàn khàn nói:

– Ta là Trần Dương Ðức, đại đệ tử của Ðào chưởng môn.

Ðức Hiệp nhìn vào lưng Ðào Kỳ thấy hơi quen, nhưng trong nhất thời y nghĩ không ra. Từ hôm Hoàng Ðức bị đánh trọng thương, tiếp theo Thái-hà trang bị mất trộm. Trộm vào căn phòng bí mật của Lê Ðạo Sinh lấy nào kiếm của Thục An-dương vương, nào búa của thánh Tản-viên, nào vàng bạc châu báu, thì phải là thứ trộm người quen ghê lắm. Cho nên Lê Ðạo Sinh biết rằng có người nằm vùng, nhưng đoán không ra là ai. Lê Ðạo Sinh cho đó là những người lớn tuổi mà thôi, vì y cho rằng người có công lực để đánh Hoàng Ðức bị thương như thế thì không thể nào là người trẻ được.

Hôm nay Ðức Hiệp nhìn lưng Ðào Kỳ quen quen, y cũng không đoán ra. Nhưng y là con cáo già, y muốn gợi chuyện với Ðào Kỳ để tìm ra tông tích nó:

– Không đúng! Thân pháp ngươi nhanh như điện chớp, thì đó là thân pháp của phái Long-biên. Còn nội công của người thì vừa giống Cửu-chân vừa giống Tản– viên, lẫn phái Long-biên nữa. Ngươi sử dụng chưởng pháp đánh Hảo muội và Chu đệ ta thấy giống Phục ngưu thần chưởng. Ngươi mới dùng võ công Cửu-chân đánh bọn ta để làm lạc ý tưởng của bọn ta… Khó lắm! Ta biết Ðào Thế Kiệt nội công thua ngươi xa, tuy ngoại công y có hơn ngươi. Những chiêu thức ngươi sử dụng không bằng Thế Kiệt, nhưng nội lực ngươi mạnh, thành ra uy mãnh vô cùng. Ngươi là cao nhân đương thời, việc gì phải dấu mặt, dấu tên?

Ðào Kỳ vờ giọng khàn khàn:

– Các người tự thị là kiến thức quảng bác, ráng mà tìm hiểu chân tướng của ta qua võ công.

Năm người tuy đối đáp, mà chưởng, quyền liên tiếp tấn công nhau. Ðào Kỳ thấy đánh lâu có thể sơ xẩy, nó phóng liền ba chưởng, rồi nhảy lùi lại. Nó đã thoát ra ngoài vòng vây, bốn người ở thế đối diện. Thuận tay nó phát chiêu Hải triều lãng lãng. Bọn người thấy thế chưởng mạnh khủng khiếp vội dừng lại phát chưởng chống. Ðào Kỳ phóng liền hai lớp nữa rồi nhảy lui lại toan chạy. Chợt nó nhìn thấy Phương Lan đứng với Lục Mạnh Tân ở phía sau, nó chụp lấy nàng, dơ lên đỡ chưởng bốn người. Bốn người thấy thế hoảng kinh, vội thu chưởng về, nó nhô lên thụp xuống mấy cái đã chạy khỏi vòng vây, biến vào đêm tối. Nó chạy đến một khu rừng, thì để Phương Lan xuống.

Phương Lan khóc:

– Tiền bối, xin tiền bối tha mạng. Tôi là con gái của trang chủ, không biết võ nghệ, tiền bối tha cho tôi đi.

Ðào Kỳ nghĩ nàng là vợ của Lục Mạnh Tân, thì là sư mẫu của mình. Nó nghĩ đến Lục Mạnh Tân lòng dạ thuần nhã, dạy dỗ nó hết lòng. Nó vội chắp tay hành lễ rồi nói:

– Bà có phải là phu nhân của Lục tiên sinh chăng?

Phương Lan cúi xuống, nín lặng một lúc rồi trả lời:

– Vâng, chúng tôi được cha đứng ra chủ trì cho kết hôn. Người tìm chúng tôi trở về. Tôi vừa về tới thì bị tiền bối bắt đi.

Ðào Kỳ hỏi Phương Lan:

– Lê tiên sinh có thực tâm tác thành cho hai vị chăng?

Phương Lan thở dài:

– Tôi tự biết có lỗi với cha tôi, nhưng sự đã rồi, tôi đành năn nỉ xin cha tôi rộng lượng mà thôi.

Ðào Kỳ gật đầu:

– Tôi sẽ đưa phu nhân về.

Phương Lan tuyệt không ngờ con người võ công cao như nó, lại thả nàng dễ dàng như thế, còn lễ phép với nàng nữa.

Ðào Kỳ cắp nàng chạy theo hướng khác trở về trang, để nàng trước cổng Nam của trang, rồi tới cửa Tây trở vào. Nó trở về đến trang trời đã khuya, nó vào phòng ngủ như không có gì xảy ra.

Sáng hôm sau nó dậy hơi trể. Ðức Hiệp đến gõ cửa phòng nó. Nó mặc quần áo rồi ra mở cửa.

Ðức Hiệp nói với nó:

– Chú em! Tôi đến hỏi chú em một việc. Chú em có thể hứa nói thực với tôi không?

Ðào Kỳ không biết Ðức Hiệp muốn gì, nó trả lời lơ đãng:

– Tôi hứa.

Ðức Hiệp tiếp:

– Trong phái Cửu-chân, ngoài lệnh tôn ra, còn có người nào ở vai cao hơn không? Thí dụ như sư thúc, sư bá của lệnh tôn.

Ðào Kỳ biết Ðức Hiệp đang muốn tìm hiểu người mà y đấu võ tối hôm qua. Có lẽ Ðức Hiệp cho rằng người đấu được với bọn sư huynh muội của y thì vai vế phải cao hơn Ðào Thế Kiệt. Nó làm như mệt mõi, ngồi xuống phản ngẫm nghĩ một lúc rồi nói:

– Tôi không nghe nói tới.

Ðức Hiệp tiếp:

– Khi lệnh tôn dạy võ cho đệ tử và các con, thì dạy có giống nhau không, hay khác nhau?

Nó trả lời ngay:

– Không khác, cha tôi dạy ai cũng giống nhau.

Ðức Hiệp gật đầu suy nghĩ:

– Chú em! Từ ngàychú em đến trang, ta thấy chú em vẫn luyện tập võ nghệ. Chú em có muốn chiết chiêu để thử lại xem võ công tiến tới đâu không?

Ðào Kỳ biết Ðức Hiệp muốn thử võ công của mình so với võ công của nó đêm qua có giống nhau không. Nó thầm nghĩ:

– Ta cứ ra chiêu giống như võ công Cửu-chân, nhưng nội công thì hỗn hợp của cả ba phái Cửu-chân, Tản-viên và Long-biên, giống như đêm qua ta làm. Như vậy chúng tin người đánh chúng hôm qua là sư huynh ta.

Nó đáp:

– Tôi xa cha tôi lúc 13 tuổi, võ công học không được làm bao, không đáng cho tiên sinh cười.

Ðức Hiệp kéo tay nó đi về phía phòng luyện võ:

– Chú em còn nhỏ, đời còn dài, võ công thấp đâu có gì lạ.

Ðức Hiệp chỉ một đệ tử ngang tuổi với nó nói:

– Minh Châu, ngươi chiết chiêu với Ðào công tử xem võ công người đến đâu rồi. Coi chừng, nếu người thua Ðào công tử, ta phải phạt ngươi phục thị công tử một tháng.

Ðào Kỳ nhìn Minh Châu, đó là một thiếu nữ 17-18 tuổi, môi hồng, mắt sáng, dáng ngưởi đậm đà rất duyên dáng. Minh Châu đứng thủ thế.

Ðức Hiệp nói:

– Ngươi tấn công trước đi. Ðào công tử là đệ tử danh gia không tấn công trước đâu.

Minh Châu bước lên Ðinh tấn, tay phải ra quyền, tay trái thủ. Ðào Kỳ dùng Cửu-chân quyền pháp chống lại. Mặc cho Minh Châu tấn công, nó chỉ thủ, thỉnh thoảng phản lại một chiêu. Nó nhận ra võ công Minh Châu ngang với sư tỷ của nó là Thiều Hoa. Nó thấy Minh Châu xinh đẹp, không muốn làm cho nàng thất bại, nên tấn công cầm chừng. Khi phát chiêu, nó chỉ sử dụng một chút kình lực mà thôi. Nó biết mỗi chiêu của nó ra, Ðức Hiệp theo dõi rất kỹ.

Bất thình lình Minh Châu lùi lại, tay trái đánh từ dưới lên, tay phải đánh từ sau ra. Nó nhận ra đó là chiêu Ngưu hổ tranh phong. Chưởng lực khá mạnh. Nó không dám chần chờ, phát chiêu Loa thành nguyệt ảnh, lùi lại một bước, tay trái quay một vòng trước mặt, tay phải đánh xuyên vào vòng tròn. Hai chưởng lực gặp nhau, Minh Châu và nó đều lùi lại một bước.

Ðức Hiệp hô lớn:

– Ngừng tay!

Ðào Kỳ hướng Minh Châu hành lễ:

– Cô nương đúng là đệ tử danh gia, chưởng lực của cô nương mạnh lắm.

Minh Châu nói:

– Cũng nhờ công tử nhẹ đòn cho.

Ðức HIệp hỏi Ðào Kỳ:

– Ngoài lệnh tôn ra, công tử có học ai khác không?

Nó trả lời sự thực:

– Có, tôi có học võ với chưởng môn Hoa-lư ít chiêu và Nghiêm đại ca. Nhưng không được là bao.

Nó biết nội công của Nghiêm Sơn vừa cương vừa nhu, nên đưa ra lời nói đó, dùng Nghiêm Sơn huø y cho y điên đầu.

Ðức Hiệp gật đầu:

– Có thể như thế! Tôi thấy chiêu cuối cùng Loa thành nguyệt ảnh của công tử có pha đôi chút nội công Âm nhu. Công tử là người của Nghiêm công thì như người nhà cả. Công tử muốn tập võ, cứ lên võ đường này mà tập luyện.

Ðức Hiệp rời giảng võ đường, Minh Châu hỏi Ðào Kỳ:

– Công tử! Năm nay công tử bao nhiêu tuổi?

– Tôi, 17 tuổi rồi.

Minh Châu reo lên:

– Tôi cũng bằng tuổi công tử. Tôi sinh tháng chín, công tử sinh tháng mấy?

Ðào Kỳ thấy Minh Châu dễ thương, nó cảm thấy vui vui:

– Tôi sinh tháng bảy, như vậy tôi lớn hơn cô nương hai tháng. Cô nương, tôi hỏi tò mò, cô nương với Lục-trúc tiên sinh là thế nào?

Minh Châu cười tủm tỉm, nheo mắt trông rất khả ái:

– Tiên sinh là thái sư phụ tôi. Tôi họ Hoàng.

Ðào Kỳ à một tiếng:

– Thì ra cô nương là con gái Huyện-uý Long-biên Hoàng Ðức tiên sinh đấy.

Minh Châu gật đầu:

– Cha tôi thường nhắc nhở đến công tử luôn. Người nói công tử hồi đó còn nhỏ tuổi mà đã đầy lòng nghĩa hiệp, dám rút kiếm cứu người giữa chợ.

Hồi nhỏ Ðào Kỳ là một công tử con Lạc-hầu, chưởng môn phái Cửu-chân. Xung quanh có toàn sư huynh, sư tỷ đối với nó chiêu đãi thân thiết, còn ngoài ra là kẻ hầu, người dưới. Nó chưa bao giờ có bạn cả. Ðây là lần đầu tiên nó quen biết một người ngang tuổi, vừa nhu mì, vừa xinh đẹp. Nó cao hứng tuyệt vời:

– Tôi ở trong trang trước sau gần bốn năm, mà sao không bao giờ thấy cô nương?

Minh Châu mỉm cười:

– Tôi ở Long-biên với cha tôi. Gần đây người bảo tôi đến Thái-hà trang hầu hạ thái sư phụ. Thái sư phụ bảo cái hạn đại ca hứa làm nô bộc cho người đã hết. Công tử là người thân của Lĩnh-nam công nên cần phải đối đãi thật hoàn hảo. Người mới ngỏ ý cho tôi về đây thay công tử.

Minh Châu vẫy Ðào Kỳ ra khỏi giảng võ đường, hướng về cuối trang. Ðào Kỳ đi theo:

– Cô nương nói thế thì được phục thị Lục-trúc tiên sinh là một điều hân hạnh lắm hay sao?

Minh Châu gật đầu:

– Thái sư phụ chỉ cho đệ tử, hoặc con cháu phục thị thôi. Người ngoài đầu tiên được phục thị Thái sư phụ là công tử đó.

Ðào Kỳ gợi chuyện:

– Tôi nghe người trong trang nói Lục-trúc tiên sinh bị mất trộm nhiều châu báu lắm phải không? Tôi ở đây đã bốn năm, thấy cách canh phòng trang ấp cực kỳ nghiêm mật, làm sao trộm có thể lọt vào được? Trộm nào khi nghe danh Thái-hà trang cũng bở vía, đâu dám đột nhập nữa? Tôi nghĩ có lẽ người nhà mới dám làm như vậy.

Minh Châu thở dài:

– Thái-hà trang xưa nay nức tiếng thiên hạ, thế mà xảy ra chuyện người lạ mặt vào đánh cha tôi một chưởng đến nỗi bị thương nặng. Rồi trong trang lại xảy ra mất trộm. Thái sư phụ đoán rằng trong trang phải có một đại cao thủ ẩn náu. Người đánh cha tôi, với người trộm phải là một. Hôm qua lại xảy ra người lạ vào nhà tù định cứu tội phạm ra. Ðại sư bá, cha tôi, với hai vị sư thúc nữa vây đánh mà không bắt được. Người đó còn dắt tiểu thư, con út của thái sư phụ đi đến sáng mới thả về. Tiểu thư bảo ngưởi đó đối với cô cực kỳ lễ phép, y tỏ ra tôn kính Lục tiên sinh. Thế thì nhất định y là người Lục tiên sinh.

Ðào Kỳ giả bộ:

– Tôi nghe nói người đó sử dụng võ công Cửu-chân nhà tôi, có lẽ vì vậy mà đại sư bá của cô nương mới bảo tôi chiết chiêu với cô nương xem có giống chiêu số người hôm qua không? Có đúng vậy không?

Minh Châu gật đầu, im lặng không nói gì. Hai người tiếp tục đi về phía cuối trang. Từ đàng xa có hai người cưỡi ngựa đi ngược chiều với Ðào Kỳ. Minh Châu hiện lên nét mặt vui mừng, chỉ về phía hai kÿ mã:

– Công tử, hai người kia là cháu ngoại của Thái sư phụ, họ là con của sư bá Chu Bá và sư thúc Lê Thị Hảo của tôi.

Hai kÿ mã tới gần, Ðào Kỳ thấy một trai tuổi khoảng 22-23, một gái tuổi khoảng 17-18. Trai thì khôi ngô, hùng vĩ, gái thì da trắng, môi hồng mắt phượng, cực kỳ xinh đẹp. Ðào Kỳ tự nhiên đem so sánh thiếu nữ với sư tỷ Thiều Hoa của nó:

– Ta tưởng trên đời này, không có người nào đẹp bằng sư tỷ ta, không ngờ hôm nay lại gặp người con gái đẹp như thế này? Khó mà so sánh rằng ai đẹp hơn ai.

Minh Châu vẫy hai người dừng ngựa lại giới thiệu:

– Ðây là sư huynh Chu Quang và sư tỷ Chu Tường Qui của tôi.

Minh Châu quay lại chỉ Ðào Kỳ:

– Ðây là Ðào công tử, người phục thị Thái sư phụ trước đây.

Chu Quang hỏi Minh Châu:

– Tên nô bộc này ở trong trang đã lâu chưa? Nó là người ở trong trang đến hầu hạ nhà ông ngoại, hay là người mua từ trang khác về.

Bấy giờ là thời phong kiến, mỗi Lạc-hầu cai trị trang ấp của mình. Người trong trang giống như dân một nước, còn Lạc-hầu là một ông vua nhỏ. Lạc hầu cần người hầu hạ, thì cứ việc tuyển chọn, không cần biết gia đình có đồng ý hay không. Khi Lạc-hầu cần tiền, có thể đem các nô bộc, hoặc người trong trang bán cho trang khác. Tục mua bán người như mua bán thú vật đời nay vậy. Cho nên Chu Quang mới hỏi tông tích Ðào Kỳ như thế.

Minh Châu đáp:

– Ðào công tử không phải người trong trang, cũng không phải do Thái sư phụ mua về. Nguyên công tử là con trai của Lạc-hầu Cửu-chân. Vì công tử giao ước đấu võ với Thái sư phụ bị thua, nên phải làm nô bộc trong trang nay đã hết hạn rồi.

Chu Tường Qui tươi cười:

– Thì ra công tử của Ðào trang Cửu-chân. Mấy năm trước tôi có nghe nói về việc công tử giao ước đấu với Thái sư phụ tôi mười chiêu. Nếu trong mười chiêu người tìm được môn hộ công tử thì công tử phải chịu làm nô bộc. Sau quả nhiên Thái sư phụ tìm ra được.

Chu Quang vẫy tay hai cái:

– Nô bộc là nô bộc, tại sao lại phải gọi là công tử? Minh Châu sư muội, ngươi đi dạo chơi với một tên nô bộc như thế này, coi sao được. Sư muội chỉ có thể dùng nó để bưng nước, giặt quần áo mà thôi.

Minh Châu lắc đầu:

– Sư ca lầm rồi. Ðào công tử hiện nay đâu có còn là nô bộc của Thái-hà trang nữa! Công tử là người của Lĩnh-nam công gửi trang Thái-hà, nên công tử thành khách của ta rồi đó. Chính đại sư bá nói thế.

Chu Quang nguyên là con đầu lòng của Chu Bá, là cháu ngoại của Lê Ðạo Sinh, được chính ông ngoài truyền thụ võ nghệ, cho nên bản lãnh của y cũng không thua gì đám sư bá sư thúc. Vì vậy, nên bản tính y rất kiêu căng, phách lối. Cha y là Huyện-uý Bắc-đái, nên y trở thành một thứ công tử hạng nhất, nhìn đời bằng nửa con mắt. Trong một lần họp đại hội đệ tử của Thái-hà trang, y được làm quen với Minh Châu. Hai người ý hợp tâm đầu. Y thầm yêu nàng từ đấy. Cách đây mấy hôm, nghe Minh Châu đến Thái-hà trang phục thị ông ngoại. Quang xin phép cha mẹ trở về thăm trang Thái-hà, nhưng sự thực để gần gũi Minh Châu. Vừa vào cổng trang y thấy Minh Châu đi chơi bên cạnh một thanh niên tướng mạo phong nhã, y đã nổi cơn ghen lên rồi. Ðã vậy Minh Châu cũng như em gái y còn một điều kêu Ðào Kỳ là công tử, hai điều kêu là công tử, khiến y càng nổi giận hơn lên. Y mới buông lời nhục mạ Ðào Kỳ.

Chu Quang nghe lời Minh Châu biện hộ cho Ðào Kỳ, khiến y càng nổi giận:

– Ðào trang Cửu-chân là cái gì? Dù cho trang trưởng Ðào Thế Kiệt có đến đây chăng nữa, chỉ đáng làm nô tỳ cho nhà ta mà thôi. Ta còn lạ gì võ công Ðào trang nữa, chỉ có tiếng mà vô dụng. Ta nghe Phong-châu song quái nói họ chỉ đánh một chưởng mà Ðào Thế Kiệt ngã lăn ra. Thế có phải võ công Cửu-chân vô dụng không?

Ðào Kỳ thấy Chu Quang nhục mạ cha mình, không nhẫn nại được nữa:

– Chu công tử! Tôi mới gặp người lần đầu, chưa hề có lời nói hay cử chỉ gì vô lễ. Cớ sao công tử nhục mạ môn hộ, gia đình của tôi? Như vậy là tác phong của danh gia sao?

Minh Châu tiếp lời:

– Hồi nãy, đại sư bá bảo tôi chiết chiêu với Ðào công tử. Chưởng lực công tử mạnh vô cùng. Tôi phải chịu thua đấy.

Chu Quang quát lên:

– Tên nô tỳ này là gì của sư muội, mà sư muội cứ bênh nó hoài vậy?

Miệng nói, y rung tay một cái, chiếc roi ngựa nhắm đầu Ðào Kỳ quật tới. Ðào Kỳ định giật roi quăng đi, nhưng nó nghĩ làm thế sẽ bị lộ hình tích nên vận công chịu một roi. Chát một tiếng, roi quất trúng đầu nó, nó vẫn thản nhiên như thường.

Chu Tường Qui kêu lên:

– Ðại ca, đừng làm thế.

Miệng nói cô dùng roi ngựa của mình, đỡ roi của anh, nhưng không kịp. Cô có vẻ quan hoài đến Ðào Kỳ:

– Ðào công tử có sao không?

Ðào Kỳ lắc đầu:

– Tôi vì ở đất của người, nên chịu một roi, cũng chả đáng kể.

Chu Quang càng nổi lôi đình:

– Mày đừng nhường ta nữa. Nếu mày chịu được của tao mười chiêu thì tao chịu làm nô bộc cho mày suốt đời.

Miệng nói, y nhảy từ mình ngựa phóng xuống. Tay trái co lại thành trảo, tay phải thành chỉ nhắm hai mắt Ðào Kỳ tấn công. Chiêu số của y cực kỳ mãnh liệt, kình lực phát ra rung động cả ngón tay.

Ðào Kỳ ngẫm nghĩ:

– Ta mới gặp mi lần đâu, không thù không oán tại sao mi lại ra tay như thế này?

Ðợi cho chỉ, trảo của Chu Quang sắp tới gần, Ðào Kỳ mới nhảy lùi trở lại thân pháp của nó nhanh vô cùng. Nhưng Chu Quang vừa xuống tới đất cũng nhảy theo vung quyền đánh thẳng vào ngực Ðào Kỳ. Nó tránh sang trái, thì quyền cũng đuổi theo. Bắt buộc nó phải đưa tay gạt. Chu Quang cảm thấy tay tê chồn, bây giờ mới biết Ðào Kỳ có bản lãnh chân thực. Y kêu lên:

– Thì ra mi là một cao thủ.

Y phóng liền một chưởng, thế chưởng cực kỳ dũng mãnh. Ðào Kỳ nhận ra đó là chiêu Ngưu ngoạ ư sơn trong Phục ngưu thần chưởng. Chiêu này tay trái quay một vòng tròn, rồi đẩy về trước. Tay phải đánh thốc từ dưới lên. Chưởng phong ào ào chụp lên người Ðào Kỳ. Ðào Kỳ biết chiêu này hùng mạnh, thấy chưởng lực của y không kém gì chưởng lực của Hoàng Ðức. Nó không dám coi thường, chờ cho chưởng của Chu Quang sắp tới người, nó cũng ra chiêu Ngưu ngoạ ư sơn, nhưng vận Âm kình. Chiêu của nó ra sau, nhưng tới trước. Hai chưởng gặp nhau, bịch một tiếng.

Minh Châu, Chu Tường Qui cùng lo cho Ðào Kỳ kêu thất thanh:

– Ðại ca ngừng tay.

– Sư huynh không được hại người.

Hai người nhắm mắt, không dám nhìn cảnh Ðào Kỳ thịt nát xương tan. Nhưng sau tiếng bịch, họ mở mắt ra, thì thấy Ðào Kỳ đứng thản nhiên như không. Còn Chu Quang mặt tái mét, đứng run rẩy ở xa.

Chính Chu Quang cũng không hiểu rõ nguyên do, tại sao một chưởng của Ðào Kỳ phát ra êm nhẹ, lại làm cho chưởng phong của y biến mất, y còn rung động toàn người. Hơi lạnh đột nhập vào người y muốn run lên.

Chu Tường Qui thấy hiện tượng lạ, hỏi:

– Ðại ca, sao vậy?

Chu Quang đã lấy lại được bình tĩnh:

– Chắc nó dùng tà thuật, để ta thử lại một chiêu nữa xem sao.

Trong lúc nóng giận vì bị Chu Quang xỉ mạ cha mình, nên Ðào Kỳ đã phát chiêu Âm nhu về Phục ngưu thần chưởng. Nó tự hối hận:

– Ta không nên hiển lộ võ công, nếu không thì nguy hiểm. Ta chỉ cần sử dụng võ công Cửu-chân cũng đủ thắng Chu Quang, nhưng ta không nên dùng kình lực mạnh quá, làm cho y bị thương.

Chu Quang lại phóng chưởng nữa. Ðào Kỳ nhận ra là chiêu Ác ngưu nan độ. Chiêu này cực kỳ cương mãnh.

Minh Châu, Chu Tường Qui cũng cảm thấy võ công Ðào Kỳ không tầm thường nên lần này hai nàng đứng im, không cản Chu Quang nữa.

Ðào Kỳ nhảy vọt lên cao tránh chưởng của Chu Quang. Nhưng Chu Quang đâu phải loại tầm thường, y biến chưởng thành quyền, nhảy lên đánh vào ngực Ðào Kỳ. Ðào Kỳ còn lơ lửng trên không, nếu nó muốn giết Chu Quang chỉ việc nhả chưởng lực thì y chết liền. Nhưng nó nghe thấy tiếng Chu Tường Qui kêu thét lên, tỏ vẻ lo sợ cho nó. Tự nhiên nó muốn giả vờ bị đòn xem cái gì sẽ xảy ra. Nó vận sức Âm nhu vào ngực. Quyền của Chu Quang đánh trúng, bịch, bịch hai tiếng. Nó làm bộ ngã lăn xuống đất ôm ngực quằn quại.

Chương 10: Hoang Bi Cổ Mộc Thiên Niên Quốc

Hoang bi cổ mộc thiên niên quốc

(Chu Mạnh Trinh, Đề Cổ-loa miếu)

Dịch nghĩa:

Bia tàn cây cỗi cố quốc nghìn thu hận

Chu Tường Qui kêu lên:

– Đào công tử, người có sao không?

Nàng chạy lại bên cạnh Đào Kỳ. Đào Kỳ giả vờ ôm ngực ngồi dậy, mặt nhăn nhó khổ sở:

– Cám ơn cô nương, tôi không sao cả.

Đào Kỳ ngồi dậy nói:

– Chu công tử, tôi còn thiếu công tử bảy chiêu nữa.

Minh Châu cản:

– Đào công tử, ngươi không địch nổi sư huynh tôi đâu, chịu thua đi cho xong chuyện.

Đào Kỳ lắc đầu:

– Cám ơn cô nương có lòng chiếu cố. Nhưng tôi còn thiếu Chu công tử bảy chiêu nữa.

Rồi nó đứng dậy thủ thế.

Chu Quang vọt người lên, đá một phi cước vào người nó. Chân trái vào ngực, chân phải vào mặt… Kình lực mạnh như vũ bão.

Đào Kỳ chờ cho chân Chu Quang sắp chạm vào người mình, nó mới thụp người xuống, loạng choạng như người say rượu, miệng đếm:

– Bốn chiêu.

Chu Quang thấy mình đá hụt, nổi giận, đánh một chưởng chiêu số rất kỳ ảo. Đào Kỳ cúi đầu xuống, hai tay che lấy mặt, vận sức chịu đòn. Miệng đếm:

– Năm chiêu.

Cứ thế đến chiêu thứ chín, nó nói:

– Chu công tử, còn một chiêu nữa.

Chu Quang móc trong túi ra hai vật đen thui như hai trái dưa màu vàng liệng xuống trước mặt Đào Kỳ. Minh Châu, Chu Tường Qui đồng kêu thét lên:

– Chết!

Đào Kỳ thấy ánh lửa loé lên. Nó biết là điều bất tường vội nhảy vọt người lên cao. Tai nó nghe hai tiếng nổ kinh hồn dưới chân, khói đen mờ mịt. Ở trên cao, nó đá gió một cái người rơi xuống đất. Chân chấm đất, nó ngửi thấy mùi khét rất khó chịu. Biết là trong khói có chất độc, nó vội nín hơi, nhảy liền ba bước, ra khỏi vùng khói.

Nó vận khí, hít một hơi dài, thấy chân khí lưu thông như thường, nó mới yên tâm nhìn Chu Quang.

Thấp thoáng bóng xanh, một người đã nhảy đến trước mặt Chu Quang tát y hai cái bốp, bốp mắng:

– Đồ hèn mạt!

Đào Kỳ trông nhận ra người đó là Lê Đạo Sinh, y chắp tay:

– Lục-trúc tiên sinh!

Minh Châu, Tường Qui cùng hành lễ:

– Thái sư phụ!

Lê Đạo Sinh hỏi Đào Kỳ:

– Cháu thử hít hơi mạnh xem có sao không?

Đào Kỳ hít một hơi dài, không thấy có gì khác lạ. Nó lắc đầu. Lê Đạo Sinh chỉ mặt Chu Quang mắng:

– Mi là đồ hư thân. Đào công tử không thù, không oán, cũng không có lời lẽ xúc phạm tới mi, mà mi dùng võ công thượng thừa để đánh người. Mi đánh thua còn dùng ám khí. Ta phải đập chết mi mới được. Mi mau lại tạ lỗi với Đào công tử.

Đào Kỳ xua tay:

– Lão tiên sinh! Chúng cháu là ngoại hậu bối, qua lại với nhau mấy chiêu, không đáng để tiên sinh phải quan tâm.

Lê Đạo Sinh mặt đỏ lên:

– Mi thấy không, Đào công tử đây tác phong danh gia, nên không chấp với mi đó.

Bất đắc dĩ Chu Quang phải đến bên Đào Kỳ chắp tay tạ ba lễ.

Lê Đạo Sinh chỉ mặt Chu Quang nói:

– Mi phải đi về với ta. Ta sẽ phạt mi 36 roi đòn về tội hành sự vô thiên vô pháp hôm nay.

Nguyên Lê Đạo Sinh chế ra một thứ ám khí cực kỳ khủng khiếp là Hoả-lưu. Vỏ bên ngoài bằng chì pha với đồng, bên trong là mấy trăm hạt chì nhỏ, trộn với thuốc kịch độc và lưu hoàng thành một thứ chất nổ. Khi ném ra lưu hoàng chạm vỏ chì, phát thành tiếng nổ, làm cháy thuốc độc và mấy trăm viên cùng bắn ra. Người nào bị viên chì văng trúng là bị thương. Vết thương có chất độc, sẽ đau đớn rên la trong mười ngày rồi thịt thối ra mà chết cực kỳ thảm thiết. Trái Hoả– lưu này chỉ những đệ tử của Lê Đạo Sinh mới được giữ mỗi người một trái. Chu Quang là đệ tử đời thứ ba đáng lẽ không được giữ, nhưng vì đã học được bản lĩnh cao ngang hàng với sư thúc, sư bá, nên Lê Đạo Sinh đặc biệt cho y hai trái. Trong lúc sắp bị thua cuộc Đào Kỳ, phải làm nô bộc suốt đời theo lời hứa, y mới đem ra dùng, mong kết liễu tính mệnh nó. Nhưng nó dùng khinh công thượng thừa tránh được.

Lê Đạo Sinh dắt con ngựa của ông cho Đào Kỳ nói:

– Đào công tử, người với Minh Châu, Tường Qui tiếp tục dạo chơi, và cố quên chuyện hôm nay đi. Đây ngựa của lão phu, công tử cỡi mà đi chơi.

Thấy Đạo Sinh xử sự nghiêm cẩn, Đào Kỳ sinh ra kính phục. Với những hành động như thế hèn chi thiên hạ không tôn ông là Lục-trúc tiên sinh. Nhưng hình ảnh nhà tù giam Nguyễn Phan với Đặng Thi Kế lại trở về trong đầu nó, khiến nó tự hỏi:

– Lục-trúc tiên sinh là người xấu hay người tốt? Việc ông đối xử với ta phân minh: Khi ta thua phải làm nô bộc, thì ông bắt ta làm nô bộc. Khi hết hạn nô bộc, chịu lời uỷ thác của Nghiêm đại ca, ông coi ta là khách. Như vậy ông tốt với ta. Nhưng ông giam Đặng Thi Kế với Nguyễn Phan thì thực là trái với nghĩa hiệp. Hiện ta khó mà phân biệt được ông là người tốt hay xấu.

Đào Kỳ lên ngựa, cùng Tường Qui, Minh Châu rời trang Thái-hà dạo chơi. Ba người đến bờ sông nhỏ, giòng nước đục ngầu, vì sông thông với sông Hồng-hà. Tường Qui hỏi Đào Kỳ:

– Đào đại ca! Tôi gọi vậy cho thân nghe. Đại ca ở Thái-hà trang có buồn không? Hay là bây giờ chúng ta đi Long-biên hay Cổ-loa chơi đi. Đại ca là người phái Cửu-chân, thì phải đi Cổ-loa chơi một lần cho biết. Vì Cổ– loa là cố đô Âu-lạc, đại ca sẽ tìm lại di tích của An Dương vương, Vạn-tín hầu Lý Thân, Cao-cảnh hầu Cao Nỗ, Trung-tín hầu Vũ Bảo Trung, là những vị anh hùng đất Việt thủa xưa, cũng là tổ sư phái Cửu-chân của đại ca.

Nghe tiếng nói trong trẻo, ngọt ngào của Tường Qui, Đào Kỳ nhận lời liền:

– Nếu Chu cô nương muốn vậy thì chúng ta cùng đi Cổ-loa. Từ đây đến Cổ-loa đâu có xa gì?

Minh Châu đề nghị:

– Tôi là sư muội của chị Tường Qui, ngôi thứ đã định sẵn. Còn công tử với chị em tôi, cứ một điều công tử, một điều cô nương mãi thì mất thân thiện đi. Bây giờ thế này, chúng ta so tuổi, ai lớn hơn là anh chị, như vậy chả hơn ư?

Tường Qui đồng ý. Nàng so tuổi, cả ba người ngang nhau, nhưng Đào Kỳ lớn hơn Tường Qui bốn tháng, nàng gọi nó:

– Đào đại ca, tôi ở vai dưới rồi.

Đào Kỳ ngây ngất:

– Như vậy từ nay tôi là anh của hai cô nương.

Ba người phi ngựa, hướng Cổ-loa. Ngựa của Thái-hà trang toàn tuấn mã, nên phi như bay. Đào Kỳ nghe thấy bên tai gió vù vù, cây cỏ bên đường một màu xanh biếc, giật lùi về phía sau. Chỉ hơn giờ đã tới một con sông chảy siết. Tường Qui phất tay dừng ngựa lại cho sải bước rồi nói:

– Con sông này trước kia vốn không có tên. Sau có thành Cổ-loa mới đổi gọi là sông Cổ-loa. Ngày nay sông Cổ-loa đổi thành sông Thuỷ-châu, lấy tên ghép của Trọng Thuỷ và Mỵ Châu mà thành.

Ba người tới bến đò. Nhà đò thấy ba người cỡi ngựa, đeo kiếm thì biết là thuộc giòng dõi cao sang, chạy ra tiếp. Minh Châu hỏi:

– Chúng tôi ba ngựa và ba người, nhà đò lấy bao nhiêu tiền?

Chủ đò nói:

– Ba ngựa thì đi một thuyền lớn. Ba vị một thuyền nhỏ. Xin cho 60 đồng. Nếu các cô, cậu muốn trở về thì chỉ tính 30 đồng nữa là 90 đồng.

Minh Châu gật đầu:

– Được tôi thưởng cho ông 10 đồng nữa là 100 đồng.

Ba người bước xuống đò. Đào Kỳ nhớ lại cách đây mấy năm nó với sư tỷ cũng qua sông Hồng-hà, rồi bị Nguyễn Tam Trinh nhận chìm đò bắt sống. Nên nó chú ý theo dõi nhà đò. Đò chưa ra sông thì hai người tấu nhạc đã làm việc. Đây là một cặp vợ chồng. Chồng khoảng 30, vợ khoảng 25 tuổi. Chồng thổi tiêu, vợ kéo nhị, và hát. Tiếng tiêu lên cao vút vọng đi khá xa, dội xuống mặt nước, hợp với sóng nước rung rinh, làm thành một điệu nhạc buồn thảm vô cùng. Tiếng nhị thánh thoát tỉ tê. Hai âm điệu hoà hợp nhau, khiến Đào Kỳ phải cau mày:

– Khúc hát này là khúc gì mà buồn như vậy?

Người đàn bà kéo nhị cất tiếng ngâm sa mạc:

Nhớ xưa tám tám vua Hùng,

Dựng thành đất Việt, anh hùng phương Nam.

Đào Kỳ chú ý nhìn ống tiêu, thấy một màu xanh biếc. Trên ống tiêu có khắc nhiều hình người. Nó nhìn kỹ thì rõ ràng đó là những chiêu thức đồ hình của võ thuật. Người đàn ông ngưng thổi tiêu, nó hỏi:

– Này bác ơi, ống tiêu của bác đẹp quá, bác cho tôi coi được không?

Người đàn ông không nói năng gì, đưa ống tiêu cho nó. Nó cầm lên xem, giật bắn người lên. Vì đó là những chiêu thức võ công của phái Cửu-chân.

Nó hỏi:

– Ống tiêu này bác mua của người ta, hay bác tự tay làm ra?

Người đàn ông trả lời:

– Thưa do chính tôi làm lấy.

Đào Kỳ càng tò mò hơn:

– Những đồ hình võ học này là ở… đâu?

Người đàn ông thổi tiêu lơ đãng:

– Nó là võ học ư? Công tử muốn thì tôi bán cho.

Đào Kỳ nói:

– Giá bao nhiêu?

Người đó nói:

– Bao nhiêu cũng không bán, nếu công tử kêu được tên chiêu thức đó thì tôi cho không.

Đào Kỳ ghé vào tai ông ta:

– Đó là chiêu Loa thành nguyệt hạ.

Người đàn ông trao tiêu cho Đào Kỳ:

– Tôi tặng công tử đấy.

Đào Kỳ cầm ống tiêu bỏ vào túi, thì thuyền đã đến bến. Người thổi tiêu nói:

– Tôi tên là Chu Thổ Quan, vợ tôi họ Quách tên Thiên Lý. Chẳng hay công tử thuộc giòng dõi Lạc-hầu nào?

Đào Kỳ đoán đây là người nhà mình, nên nó dùng giọng Cửu-chân trả lời:

– Tôi ở Cửu-chân.

Chu Thổ Quan á lên một tiếng nói:

– Chắc công tử tới đây lần đầu. Tôi đưa công tử đi thăm thành Cổ-loa, xin công tử trả cho tôi ít tiền sinh sống được không?

Đào Kỳ gật đầu:

– Được chứ, được chứ.

Tường Qui móc túi đưa cho Chu Thổ Quan 200 đồng:

– Chu tiên sinh, tôi tạ tiên sinh 200 để được tiên sinh đưa đi chơi, xin tiên sinh nhận cho.

Tiền mướn người hồi đó, giá cao nhất một ngày là mười đồng, thế mà Tường Qui trả đến 100 đồng một người, tức là gấp mười. Đã vậy nàng còn dùng danh từ tạ và gọi là tiên sinh thực ít có.

Chu Thổ Quan chắp tay:

– Cô nương cho như vậy là nhiều quá rồi, lại còn dạy quá lời thực chúng tôi không dám.

Minh Châu cười:

– Chu tiên sinh! Tiên sinh tấu nhạc trên con sông chở khách vãng lai. Người trần mắt thịt thì gọi tiên sinh là xẩm sáng, coi tiên sinh là một thứ ăn xin. Còn chúng tôi, chúng tôi nhìn cái hồn nhạc ở trong người tiên sinh. Khi tiên sinh tấu nhạc, là tiên sinh đem tất cả cái ảo diệu âm thanh dâng cho chúng tôi. Chúng tôi lắng tai nghe, nhận tất cả những ân huệ đó. Đã vậy còn được tiên sinh dẫn đi ngoạn cảnh Cổ-loa, dù tạ 100 đồng chứ đến một quan (600 đồng) cũng không xứng. Với 100 đồng, chúng tôi chỉ có thể nói rằng tạ tiên sinh mà thôi.

Đào Kỳ nghe Minh Châu nói, làm nó suy nghĩ:

– Hai thiếu nữ này là đệ tử danh gia có khác. Tư thái khác phàm. Dù đối với người nghèo khó, vẫn lịch sự. Khổng-tử dạy rằng lễ kính là kỷ cương của trời đất quả đúng vậy.

Nó đoán Chu Thổ Quan chắc chắn là người nhà rồi. Nếu ông không là người của chú cũng là người của bố nó. Nó phải tìm cách hỏi thăm tin tức bố và chú nó mới được.

Chu Thổ Quan chỉ tay về phía trước:

– Kìa là thành Cổ-loa, cố đô của Âu-lạc ta.

Tường Qui hỏi:

– Tôi nghe nói rằng, ngày xưa vua An-dương vương nhà Thục định xây thành Cổ-loa, cứ xây lại bị đổ. Sau được thần Kim-qui hiện lên trừ ma tà, yêu quái, thành mới xây xong. Thần còn dâng cho vua cái móng rùa để làm nẫy nỏ. Bắn một phát cả ngàn người chết, không biết có đúng không?

Chu Thổ Quan thở dài:

– Đó là sau khi Triệu Đà đánh chiếm Âu-lạc, rồi y bịa ra như vậy, để dân chúng quên những anh hùng Lĩnh Nam mà thôi. Câu chuyện như thế này: Sau khi thắng vua Hùng lập ra nước Âu-lạc, vua An-dương nhà Thục muốn xây một cái thành lớn cho kiên cố để chống giặc. Ngài ngỏ ý ấy với Vạn-tín hầu Lý Thân. Vạn-tín hầu vẽ một kiểu thành như hình trôn ốc dâng lên. Vua An-dương thuận, và nhờ Vạn-tín hầu tìm địa điểm. Ngài chu du khắp nơi, cuối cùng tìm ra nơi này, có con sông chảy uốn khúc. Xây thành như vậy hai mặt giáp sông, đã là hiểm trở, còn hai mặt do đường bộ đi vào. Ngài đào hào sâu, làm cổng để phòng vệ. Nếu địch do mặt sông để tấn công vào, thì ta ở trên thành bắn xuống, chúng sẽ bị bại. Còn do mặt bộ đánh vào, thuỷ quân theo hình trôn ốc từ trong thành tiến ra đánh mặt hậu. Thành chia ra làm ba khu vực. Khu bên ngoài là dân chúng ở. Khu này được bao bọc bởi lớp đê dài 16.000 trượng (32 cây số ngày nay).

Thổ Quan chỉ một bức tường cao dài, cỏ xanh trước mặt:

– Kìa là lớp đê ngăn nước. Đê cao cả chục thước như vậy, để nước sông khỏi tràn ngập. Đứng ở phía ngoài nhìn vào, chẳng thấy gì cả. Lát nữa ta vào trong sẽ thấy những đồn, ụ, phòng thủ rất kiên cố. Giả thử quân Thục bị thua, chạy về cố thủ. Giặc phải chiếm được cái đê này trước đã. Quân trú phòng phía trong để bắn tên ra. Quân ở ngoài tấn công, leo lên đốc đê, sẽ làm mồi cho cung tên.

Đoàn người vượt qua cái cổng thứ nhất lên mặt đê. Chu Thổ Quan chỉ phía trong đê:

– Kìa các vị nhìn xem, phía trong đê cứ một khoảng lại có một đồn nhỏ. Đồn đóng được gần 100 quân, để phòng thủ lớp đê. Sau khi giặc thắng tràn qua lớp đê này, đã mệt mõi, bị thương tích nhiều, làm sao còn sức đánh vào lớp thành thứ nhất. Quý vị hãy nhìn xem, với lớp thành cao thế kia, mà quân tấn công lớp mệt mỏi, lớp bị thương, làm sao mà công phá cho được.

Bọn Tường Qui nhìn theo tay chỉ của Chu, thấy một vòng luỹ cao vòi vọi:

– Chu tiên sinh, lớp luỹ này cao đến 20 trượng không?

Chu Thổ Quan gật đầu:

– Cô nương ước tính đúng, lớp luỹ ngoài cao trên 20 trượng (40 mét), chân luỹ rộng 15 đến 20 trượng. Mặt luỹ từ 6 đến 8 trượng. Lớp luỹ này bao bọc phần thứ nhất của thành chu vi khoảng 4.000 trượng. Trong lớp luỹ là nơi các quan ở.

Ba người đã vào đến cửa thành. Họ phải đi qua một cây cầu bắc ngang cái hào rộng đến mười trượng. Cầu có hai sợi dây lớn nối liền với cổng thành. Khi hữu sự thì quân trong thành quay cái bánh xe cuốn dây, cầu được kéo lên. Cổng thành đóng lại.

Ba người cảm thấy như nhỏ bé lại trước lớp luỹ đồ sộ. Trên mặt luỹ, quân lính Hán đi lại canh phòng, người ngựa rầm rập. Trong thành có nhiều nhà cửa cao lớn, khang trang.

Chu Thổ Quan chỉ những nhà đó nói:

– Đó là những dinh thự của các đại thần thời Âu-lạc. Ngày nay người Hán ở. Ngôi nhà có năm góc, ngói xanh kia là dinh của Cao-cảnh hầu Cao Nỗ. Cao-cảnh hầu là người chế ra thần nỏ Âu-lạc, bắn một phát hàng ngàn mũi tên, khiến cho 50 vạn quân Tần phải bỏ xác, và Triệu Đà kinh hồn động phách. Ngài là tổ sư của phái Hoa-lư. Trải qua 200 năm, dinh thự còn đó, nhưng con cháu ngài không được ở, mà bọn người Hán đến ở. Ôi đau xót biết bao, tủi nhục biết bao?

Chỉ sang phía trái, ông nói:

– Kia là dinh của Vạn-tín hầu Lý Thân, tổ sư của phái Long-biên. Dinh của ngài rất lớn. Vạn-tín hầu xưa đã từng đánh Hung-nô, ruổi ngựa khắp Vạn-lý trường thành, đánh thắng hết các anh hùng Trung-nguyên, oai danh một thời, nhưng nay thì dinh của ngài để cho người Hán ở. Thực là mối hận vạn cổ.

Đào Kỳ nhìn theo bốn dãy nhà bốn bên, ở giữa là một dinh thự rất đẹp. Trong dinh có người ở nhưng cây cối điêu tàn, cỏ cây xơ xác.

Chu Thổ Quan thở dài:

– Xưa kia đây là thủ đô Âu-lạc, oai linh một thủa. Nay vua An-dương vương ở đâu? Vạn-tín hầu ở đâu? Cao-cảnh hầu ở đâu? Trung-tín hầu ở đâu? Bia tàn cây cỗi, ngàn đời hận vong quốc. Tổ tiên ta xưa oanh liệt một thời. Vạn-tín hầu sang Lạc-dương đánh thắng các anh hùng của Tần Thuỷ-hoàng, sau đó lĩnh ấn nguyên soái đánh Hung-nô. Hung-nô sợ không dám nhập Trung-nguyên. Trung-tín hầu giết Đồ Thư tại trận, quân Tần vỡ mật rút lui. Thế mà chỉ vì một người con gái Âu-lạc nhẹ dạ, đến nỗi như thế này.

Chu Thổ Quan dẫn ba người đi thăm hết các dinh thự cũ cố đô, đến một góc thành có miếu thờ, hương khói nghi ngút.

Chu Thổ Quan nói:

– Kia là đền thờ vua An-dương và các anh hùng thời Âu-lạc. Chúng ta nên tới đó hành hương, để tưởng niệm.

Đền thờ vua Thục An-dương được xây tại một góc thành. Đào Kỳ thấy lối kiến trúc giống như đền thờ Cao-cảnh hầu Cao Nỗ mà nó đã đi qua. Đền được làm trên một khoảng đất rộng, xung quanh có hàng rào trúc, cắt xén rất tinh vi. Cổng vào, cột tô sơn đỏ, mái ngói xanh. Trên cột có rồng uốn khúc, đầu rồng trên nóc cổng nhả ra một viên châu. Cổng có ba cửa vào, cửa chính ở giữa lớn, lúc nào cũng đóng. Hai cửa hai bên vừa hai người đi thì mở cho khách tới lễ. Vào trong cổng là một cái hồ nhỏ trong trồng sen, có cá chép vàng bơi lội. Trên bờ hồ trồng đủ mọi loại hoa. Trước khi vào đền, phải qua một cái hàng hiên. Hai bên hiên có hai ngôi tượng rất lớn, tay cầm đao, đó là hai thần giữ cửa. Vào trong đền, ở giữa tượng An-dương đắp bằng đất, rất linh động, lưng đeo bảo kiếm, ngồi trên ngai. Bên phải một người cực kỳ cao lớn, đeo bảo kiếm, bên trái một người khác mặc quần áo võ quan, tay cầm cung, tay cầm tên. Phía trước một người cầm gậy đập xuống đầu ba người quỳ gối: Một nam, một nữ còn trẻ và một người già.

Chu Thổ Quan:

– Người ngồi giữa là vua Thục An Dương. Người to lớn hùng vĩ là Vạn-tín hầu Lý Thân, người đeo cung tên là Cao-cảnh hầu Cao Nỗ. Người cầm gậy đánh vào đầu kẻ gian là Trung-tín hầu Vũ Bảo Trung. Ba người quỳ gối thì nữ là Mỵ Châu, nam là Trọng Thuỷ, còn lão già là Triệu Đà.

Trong đền hương khói nghi ngút, huyền ảo. Ông từ giữ đền thấy năm người vào lễ, vội bước ra chào:

– Quý khách ở phương xa tới lễ đức vua phải không?

Đào Kỳ gật đầu:

– Vâng, chúng tôi xin được lễ đức vua và các vị trung thần.

Ông từ gọi hai thiếu nữ mặc áo vàng lên điện. Một người đánh chuông, một người đánh trống. Đào Kỳ quỳ trước điện, Minh Châu, Tường Qui đồng quỳ xuống bên cạnh. Đào Kỳ lễ bốn lễ rồi khấn:

– Đệ tử là Đào Kỳ, thuộc phái Cửu-chân, xin khấn trước các vị tổ sư: Đệ tử nguyện xin dâng cả cuộc đời cho công cuộc phản Hán phục Việt. Xin các vị tổ sư linh thiêng, phò hộ cho đệ tử sớm được gặp những bậc anh tài để phò tá.

Bên cạnh Đào Kỳ, Minh Châu, Tường Qui cùng khấn theo, nhưng hai nàng khấn nhỏ quá, Đào Kỳ không biết các nàng khấn những gì.

Ba người cùng lấy tiền đưa cho ông từ để mua đèn hương và tu bổ đền. Đào Kỳ còn lưu luyến không muốn rời khỏi đền, nó hỏi ông từ:

– Lão bá, chẳng hay đền được xây từ hồi nào vậy?

Ông từ mắt mơ màng nhìn về xa xưa nói:

– Sau khi giòng họ Triệu bị người Hán đánh dẹp, dân chúng các nơi kéo về đây họp nhau, thu góp tài vật xây đền. Cho đến nay gần 100 năm rồi. Quý khách đây là con dân Việt hay đệ tử của Âu-lạc?

Đào Kỳ chỉ Tường Qui, Minh Châu giới thiệu:

– Hai vị cô nương đây coi như đệ tử của Vạn-tín hầu.

Còn chàng chỉ Chu Thổ Quan:

– Tiên sinh với tôi đều là đệ tử của Trung-tín hầu.

Ông từ mặt đầy vẻ thiện cảm:

– Thế thì mời quý vị viếng thăm giếng Trường hận là nơi Trọng Thuỷ nhảy xuống tự tử, sau khi đã chôn xác Mỵ Châu.

Ông dẫn năm người đến dưới gốc cây đa thực lớn, chỉ cái giếng khá sâu:

– Đây là cái giếng Trọng Thuỷ đã nhảy xuống tự tử chết theo Mỵ Châu. Từ ngày đó, trong thành Cổ-loa mọc ra một thứ hoa màu tím, có lấm tấm trắng. Trong nhuỵ quả hiện ra hình một người đàn ông cúi đầu như khóc. Người ta đồn đó là hình Trọng Thuỷ, hoa được gọi là hoa Trường-hận.

Tường Qui mắt phượng mở to quát:

– Trọng Thuỷ! Nếu hồn ngươi có sống quanh đây hãy nghe ta nói: Ta chỉ là một cô gái Việt nhỏ bé, tuổi chưa quá 17, nhưng ta đã trải qua nhiều đêm nhìn trăng uống hận vong quốc. Ngươi được vua An Dương thương yêu, cho ở rể. Được Mỵ Châu tin tưởng ngươi. Ngươi nỡ lòng nào dẫm lên đại lượng của vua An Dương, chà đạp lên tình yêu của Mỵ Châu, phá vỡ hết hệ thống nỏ thần trên thành, ăn cắp bí mật chế nỏ, rồi chiếm nước người… Dù ngươi hối hận chết đi một lần, chứ chết đi đến một trăm lần cũng không chuộc được tội ngươi.

Nàng rút kiếm lia một nhát, bao nhiêu hoa Trường-hận trên bờ giếng đứt sát hết tới tận gốc. Cơn giận hình như chưa hết, mắt phượng sắc như dao, còn nhìn vào những cây hoa nằm dưới đất như muốn băm vằm ra.

Chu Thổ Quan rút trong túi ra một ống tiêu, đưa lên miệng thổi, tiếng tiêu cao vút lên tận mây xanh, toả vào không gian vô tận, dài liên miên bất tuyệt. Đào Kỳ nhận ra tiếng tiêu đó là bản Cổ-loa di hận mà nó đã được nghe cách đây mấy năm ở trên bờ sông Hồng-hà do Nguyễn Tam Trinh tấu. Có điều Tam Trinh tấu trên sông nước mênh mông. Còn Chu thổ Quan lại tấu ngay trên cảnh điêu tàn của Cổ-loa, thành ra tiếng tiêu thê thảm như con mất cha, nức nở như tiếng vợ mất chồng và ai oán như thiếu phụ nhan sắc mặn nồng giữa ngày xuân phải xa tình lang, khiến người ngồi đó phải cúi đầu khổ não.

Tường Qui rút kiếm chỉ về phương Bắc nghiến răng:

– Đệ tử, Chu Tường Qui, xin thề trước Quốc-tổ, sẽ dùng cả đời để phản Hán phục Việt. Nếu đệ tử không giữ lời thề, sẽ như cây này.

Nàng rút kiếm chém vèo một cái, cây lúc lác bên cạnh bị tiện trọn từ gốc.

Quách Thiên Lý tay kéo nhị, miệng ca:

Lĩnh Nam anh hùng,

Lĩnh Nam địa linh,

Lĩnh Nam anh kiệt,

Đất Lĩnh Nam chừ! Đã hai trăm năm,

Giặc Hán đến,

Anh hùng đâu?

Điêu tàn thành cổ, nước sông trôi,

Cây cỏ khóc chừ! Người đời vô tình,

Ai đó nghe ta hát chừ! Tỉnh giấc đi thôi,

Ăn ngon chừ,

Mặc đẹp chừ,

Nhà đẹp chừ,

Vợ đẹp chừ,

Cúi đầu như trâu như ngựa,

Non nước điêu tàn, vong quốc mênh mang.

(dịch bài Cổ-loa di hận)

Năm người xuất hồn, như mê như tỉnh. Chu Thổ Quan dẫn bọn Đào Kỳ đi vào giữa thành, chỉ vào lớp tường cao nói:

– Đây là lớp trong cùng của Cổ-loa. Đó là cung điện của vua An Dương. Ngày nay là nơi đồn trú của một quân Hán. Bọn này chịu quyền điều khiển của Bình-nam đại tướng quân, chứ không chịu quyền điều khiển của thái thú. Kìa các vị coi lớp luỹ bên trong cao, rộng hơn lớp luỹ bên ngoài mấy trượng. Trên có nhà chòi, đó là nơi đặt những dàn nỏ thần của Cao-cảnh hầu. Triệu Đà đánh bao lần đều bại. Nhưng nhờ Trọng Thuỷ phá hoại các dàn nỏ, thành ra chúng mới tiến vào dễ dàng như vậy.

Trời đã ngả về chiều, Đào Kỳ khẽ nháy mắt cho Chu Thổ Quan tách ra xa Tường Qui, Minh Châu hỏi:

– Chu tiên sinh, chẳng hay tiên sinh thuộc chi phái nào của phái Cửu-chân?

Chu Thổ Quan thở dài nói:

– Tôi thuộc chi phái Chu trang.

Đào Kỳ tỉnh ngộ:

– Trong chín Lạc-hầu vùng Cửu-chân, thì Chu Khải Anh là người xu phụ theo thái thú Nhâm Diên, nên có nhiều đệ tử bỏ phiêu bạt khắp nơi. Không biết Chu Thổ Quan là người thế nào với Chu Khải Anh?

Quách Thiên Lý cúi mặt xuống, buồn rầu nói:

– Cũng là Cửu-chân, nhưng công tử là con của Đào hầu, phản Hán phục Việt, danh vang Lĩnh-nam. Còn thúc phụ của chúng tôi thì làm tôi cho giặc. Cho nên chúng tôi thà đi ăn mày, chứ không ở trong trang của người.

Chu Tường Qui thấy Đào Kỳ và vợ chồng Chu Thổ Quan lui ra xa nói chuyện. Nàng đoán rằng họ có nhiều điều bí mật muốn trao đổi với nhau nên lãng đến chỗ buộc ngựa chờ đợi.

Quách Thiên Lý liếc nhìn Đào Kỳ:

– Năm trước chúng tôi nghe chuyện Đào, Đinh trang bị đánh, Đào, Đinh hầu đều thoát, nhưng không biết phiêu bạt nơi nào. Sau nghe có một số đệ tử thoát thân, ở nhờ Cao-cảnh hầu tại Hoa-lư. Chúng tôi tới nơi tìm, thì nhị đệ tử là Trịnh Quang nói rằng: Trước khi xảy ra trận đánh cảng Bắc, Đào hầu dặn rằng, sau này có bị thất lạc, sẽ gặp nhau ở Cổ-loa. Bởi vậy chúng tôi đến đây giả là phường tấu nhạc bên sông, khắc võ công Cửu-chân lên ống tiêu, hầu người Cửu-chân đến thì nhận ra nhau.

Đào Kỳ bây giờ mới hiểu ra:

– Thế thì từ hồi đó đến giờ, sư huynh đã gặp bao nhiêu người của Đào, Đinh trang rồi?

Chu Thổ Quan buồn rầu:

– Gặp thì có gặp, nhưng không gặp Đào hầu đâu. Đầu tiên tôi gặp một cô nương cực kỳ xinh đẹp, võ công cao cường, đi cùng với một thiếu niên thuộc phái Sài-sơn. Cô nương xưng là tam đệ tử của Đào hầu.

Đào Kỳ lộ nét mặt vui mừng trên mặt:

– Đúng đấy! Người ấy là sư tỷ của tôi họ Hoàng tên Thiều Hoa.

– Sau đó ba người nữa, một người xưng là Đào Hiển Hiệu, một người xưng là Đào Quí Minh cùng đi với một người con gái là Đào Phương Dung. Dường như ba người là anh em ruột. Họ ở rất xa đến. Họ cùng đi tìm Đào hầu. Tôi hỏi họ ở đâu thì họ nói rằng họ đến từ huyện Đăng-châu.

Đào Kỳ nghe kể, lòng nó rộn lên mừng, vì ba người họ Đào đó là em con chú nó là Đào Thế Hùng. Bố nó, và tất cả mọi người đều tưởng rằng Thế Hùng ở Cổ-loa, không ngờ ông lại ở Đăng-châu.

Nó hỏi:

– Họ chỉ nói ở Đăng-châu thôi sao? Họ không nói rõ ở trang động nào?

Chu Thổ Quan lắc đầu:

– Họ không tin chúng tôi, nên chỉ nói sơ lược, rồi lưu lại Cổ-loa một tháng, dường như để tìm Đào hầu. Sau không thu được tin tức gì, họ lại ra đi. Như vậy cho đến nay Đào hầu, Đinh hầu vẫn không có tin tức gì!

Đào Kỳ từ biệt vợ chồng Chu Thổ Quan rồi cùng Chu Tường Qui, Minh Châu trở về Thái-hà trang.

Đào Kỳ vừa định ăn cơm, thì con nữ tỳ hầu nó đến nói:

– Công tử, Lục-trúc tiên sinh mời công tử đến dùng cơm chung với lão gia.

Đào Kỳ thay quần áo, rồi lên phòng ăn riêng của Lê Đạo Sinh. Đức Hiệp mở cửa phòng dẫn nó vào. Trong phòng ăn có Lê Đạo Sinh, Hoàng Đức, vợ chồng Chu Bá, vợ chồng Lục Mạnh Tân, và bọn anh em Tường Qui. Đào Kỳ thấy Lục Mạnh Tân, nó tiến tới trước mặt ông chắp tay hành lễ:

– Con xin kính cẩn vấn an thầy. Chúc thầy được vạn an.

Lục Mạnh Tân nắm tay Đào Kỳ:

– Người đời đi tìm thầy. Nhưng thầy cũng đi tìm học trò. Thầy được một người đồ nhi như Đào Kỳ thì không uổng một đời đi dạy học.

Lê Đạo Sinh vẫy Đào Kỳ:

– Hôm nay các cháu đi chơi Cổ-loa về phải không? Chắc lại thăm đền thờ của An-dương? Nào, cuộc đi chơi có gì hay kể xem nào?

Minh Châu là người nhanh miệng, nàng tường thuật từ đầu đến cuối cuộc đi chơi. Lê Đạo Sinh luôn gật đầu. Ông vuốt tóc Minh Châu, Tường Qui lòng đầy tự hào:

– Ông mừng lắm. Ông già rồi, đang cố gắng bước đi từng bước. Đời ông cần phải hoà hoãn với người Hán, để bảo tồn trang ấp, môn hộ. Nếu cuối đời, ông làm được việc gì thì tốt. Còn nếu không làm được việc gì thì các cháu sẽ kế tục. Nhưng mà…

Ông ngừng lại một lúc tiếp:

– Đào công tử với các cháu làm những chuyện đó giữa khu vực Hán quân không chừng họ đã biết hành tung của các cháu, e sau này gặp khó khăn đấy. Thôi được, chúng ta ăn cơm đi. Từ nay Đào công tử đừng ăn riêng nữa, lên đây ăn với chúng ta, cùng thảo luận cho vui. Đào công tử với chúng ta đang đi cùng đường.

Đào Kỳ thấy Lê Đạo Sinh coi nó như người nhà, nó cảm thấy nhẹ lâng lâng. Nó liếc nhìn Chu Tường Qui, bất chợt cũng gặp nàng nhìn nó. Bốn mắt nhìn nhau, nó cảm thấy tim đập mạnh, tự nghĩ:

– Có lẽ nàng cũng như mình, cũng mong có dịp gặp nhau. Nay ông ngoại nàng cho mình lên đây ăn uống cùng, đi chơi cùng thì còn gì sướng hơn.

Chu Quang thấy ông ngoại đối với Đào Kỳ ngày càng tử tế, thì bực mình:

– Ông ngoại, cháu không hiểu câu ông ngoại nói: Chúng ta đang đi cùng đường với Đào công từ là thế nào?

Lê Đạo Sinh cười:

– Có gì mà không hiểu. Chúng ta hoà hoãn với người Hán, để đợi một ngày kia, thực lực đã đủ thì mới khôi phục đất Lĩnh Nam. Đào công tử cũng thế. Công tử là con nhà danh gia, nhưng thân thiết với Lĩnh Nam công, thế thì không cùng đường lối với ta là gì?

Chu Tường Qui liếc nhìn Đào Kỳ:

– Đào đại ca, cách đây bốn năm, đại ca còn ít tuổi, tại sao lại thân được với Lĩnh Nam công, uy quyền bậc nhất thiên hạ, chỉ thua có vua Hán thôi?

Đào Kỳ thuật chi tiết trận đánh cảng Bắc, gặp Nghiêm Sơn thế nào cho mọi người nghe, rồi nó kết luận:

– Bố tôi dạy: Quân thù có gì tốt cũng phải nhận là tốt. Ta có gì xấu phải biết là xấu. Đừng vì ghét người mà cái xấu của mình bảo là của người. Đừng vì tự ái mà cái tốt của người lấy làm của mình. Người Hán có Nghiêm Sơn, có Lục tiên sinh, tôi nghĩ… thực đáng kính phục.

Cơm xong, mỗi người đi một ngả chơi. Tường Qui nheo mắt với Đào Kỳ một cái. Nó nghĩ thầm:

– Chắc nàng có điều gì muốn nói với ta đây. Ta phải đi theo nàng mới được.

Tường Qui lững thững đi về phía bờ sông. Trời đã về chiều, mặt trời toả ánh nắng đỏ rực, rọi ngang trên sông nước đỏ ngầu. Màu đỏ của nước, ánh đỏ của mặt trời tạo thành một màu đỏ óng ánh. Tường Qui xuống một con đò đậu ở bến. Đào Kỳ biết con đò to lớn trần thiết cực kỳ xa xỉ này là du thuyền của Lê Đạo Sinh. Thuyền có ba tầng, tầng dưới là phòng để uống rượu, đọc sách. Tầng giữa để ngủ và tầng trên cùng để đánh đàn, ngoạn cảnh.

Tường Qui xuống thuyền, dơ tay ngoắc Đào Kỳ. Tim nó đập loạn lên, không tự chủ được, bước theo.

Tường Qui dắt nó leo lên tầng trên. Trong căn phòng có treo đủ các thứ nhạc khí: Nào sáo, nào đàn, nào trống cơm… không thiếu một thứ gì.

Tường Qui phất tay một cái, thuyền phu nhổ sào, bẻ lái, con thuyền từ từ trôi ra giữa sông, rồi cho chạy xuôi giòng. Tường Qui cầm cây đàn bầu bật dây mấy cái, tiếng đàn kéo dài như rung rinh theo sóng nước. Nàng vừa đàn vừa ca:

Yến yến vu phi,

Si trì kỳ vũ,

Chi tử vui qui,

Viễn tống vu dã,

Chiêm vong phất cập,

Thế khấp như vũ.

Yến yến vu phi,

Hiệt chi hàng chi,

Chi tử vu qui,

Viễn vu tương chi,

Chiêm vọng phất cập,

Trữ lập dĩ khấp.

Yến yến vu phi,

Hạ thượng kỳ âm,

Chi tử vu qui,

Viễn tống vu Nam,

Chiêm vọng phất cập,

Thực lao ngã tâm.

Đào Kỳ biết nàng hát một bài ca trữ tình trong kinh Thi, mà ý nghĩa như sau:

Kìa trông yến bay,

Cánh lên, cánh xuống.

Nàng đi theo ai?

Tiễn nàng ra đồng,

Trông theo chẳng thấy,

Khóc lóc như mưa.

Kìa trông yến bay,

Hàng lên, hàng xuống.

Nàng đã theo ai?

Nhìn theo không kịp,

Theo nàng đi xa,

Đứng nhìn nhỏ lệ.

Kìa trông yến bay,

Tiếng kêu đau thương.

Nàng đi lấy chồng,

Tiễn nàng về Nam,

Nhìn theo chẳng hịp,

Lòng này khổ đau.

Đào Kỳ hồn bay bổng theo tiếng đàn:

– Tường muội, tại sao em lại ca bài ca đó?

Tường Qui vẻ buồn man mác:

– Anh là người văn võ kiêm toàn. Năm xưa nghe tiếng đàn của đệ tứ Thái-bảo phái Sài-sơn mà biết được tâm sự của ông. Ông khen đại ca là đệ nhất tri kỷ. Nay đại ca nghe tiếng đàn, câu hát của em không lẽ không hiểu sao?

Đào Kỳ tưởng nàng hát chơi một khúc, không ngờ trong tiếng đàn còn có ngụ ý gì nữa đây, mà nó không hiểu. Tường Qui cúi đầu xuống vừa đàn, vừa hát, tiếng hát ngân dài thê thảm:

Trèo lên cây bưởi hái hoa,

Bước xuống ruộng cà hái nụ tầm xuân.

Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc,

Em có chồng anh tiếc lắm thay.

Ba đồng một mớ trầu cau,

Sao anh không hỏi những ngày còn không?

Bây giờ em đã có chồng,

Như chim vào lồng, như cá cắn câu.

Cá cắn câu biết đâu mà gỡ,

Chim vào lồng biết thủa nào ra?

Nàng hát xong, Tường Qui cúi đầu xuống nước mắt nhỏ từng giọt. Đào Kỳ rung động tâm hồn:

– Thì ra Tường Qui đã có chồng rồi. Bây giờ bèo mây dun dủi nàng gặp ta. Hai đứa ý hợp tâm đầu. Nhưng nàng như cá cắn câu, chim vào lồng, biết sao ra thoát.

Thuyền vẫn trôi đều trên sông. Trăng chiếu xuống nước lung linh. Đào Kỳ nhìn lên bầu trời, mây lững lơ bay về phương trời xa. Nó buông tiếng thở dài não nuột. Tường Qui đã lại ngồi bên nó, ngắm trăng. Hai tay nàng ôm gối, mặt hơi nghiêng nghiêng nhìn trời, nước mắt nhỏ xuống vai Đào Kỳ. Nó thấy một vật động đậy, lạnh buốt đụng vào tay nó. Nó nắm lấy, thì ra bàn tay của Tường Qui. Tường Qui gục đầu vào vai nó. Người nó như bay tít lên mây xanh, không tự chủ được nữa, nó ôm đầu nàng vào ngực. Thuyền vẫn cứ trôi. Tường Qui kể:

– Năm 15 tuổi, bố em hứa gã em cho con quan huyện lệnh Đăng-châu. Lễ lộc đã đủ. Mấy hôm nữa thì sẽ làm lễ cưới. Nhưng… trên đường về thăm ông ngoại, em gặp anh. Cùng một tâm tư phản Hán phục Việt, cùng trong làng võ với nhau, khiến em với anh như gặp nhau tự thủa nào! Nhưng… em không biết làm sao đây?

Thời bấy giờ phụ mẫu quyền cực kỳ mạnh. Cha mẹ quyết định cưới gả hết. Con cái không được tự quyết một điều gì. Bên Trung-hoa thời này thì trai gái không được tự do gặp nhau. Nhưng vùng Lĩnh-nam, tộc Việt không chịu khuôn khổ quá chặt chẽ của Khổng, Mạnh, nên Đào Kỳ mới được gặp riêng Tường Qui.

Tường Qui khóc:

– Em gặp anh đây, giống như nhìn trăng dưới nước, chỉ thấy ánh trăng, mà không biết trăng như thế nào. Mai em sẽ về làm dâu họ Trương, rồi cách biệt ngàn trùng.

Đào Kỳ vuốt tóc Tường Qui:

– Em nói, bố em hứa gả cho con quan uuyện lệnh Đăng-châu, vậy thì chồng em là người Hán sao?

Tường Qui gật đầu. Bây giờ Đào Kỳ mới hiểu tại sao khi đi lễ ở đền vua An Dương, nàng lại ghét Trọng Thuỷ và người Hán đến thế. Chàng thấy tâm tính nàng không giống ông ngoại với cha.

Tường Qui cúi đầu lau nước mắt:

– Chỉ còn mấy hôm nữa, em phải về nhà, rồi làm một Mỵ Châu. Lấy chồng Hán. Nhục nhã, tủi hận. Vậy trong những ngày còn ở đây, em xin anh luôn gần em…

Thuyền đã cập bến, hai người lên bờ. Tường Qui về phòng. Đào Kỳ cũng về phòng. Nó nằm vật xuống giường, buồn vô tận. Từ lúc gặp Tường Qui, nó như lạc hồn vào thiên thai. Hai người tâm đầu ý hợp. Tuy chỉ một ngày gần nhau, mà như đã sống bên nhau hàng chục năm. Bây giờ nghe tin Tường Qui đã có chồng, nó như người rơi từ cao xuống vực thẳm. Nó phải làm gì bây giờ? Nó chợt nhớ đến Lục Mạnh Tân. Ừnhi! Tại sao nó không tìm để vấn kế. Hoặc giả nó với Tường Qui cũng làm như Mạnh Tân với Phương Lan không được sao?

Nó ra khỏi phòng, khép cửa lại, thì thấy một bóng đen chạy vụt về phía phòng Minh Châu. Nó vốn có cảm tình với nàng, nên nó rất quan tâm đến việc này. Nó vội theo bén gót. Bóng kia đến trước cửa phòng, gõ cửa ba cái. Có tiếng mở cửa phòng, rồi tiếng Minh Châu hỏi:

– Bố đấy phải không?

Bóng đen đáp lại:

– Ừ, bố đây. Bố vào phòng con rồi sẽ nói.

Cánh cửa khép lại.

Lòng Đào Kỳ đầy nghi ngờ:

– Hoàng Đức muốn gặp con gái, thì ngang nhiên gọi nàng đến phòng mà hỏi. Cớ sao lại phải lén lút như vậy? Ta phải nghe xem có chuyện gì mới được. Biết đâu chẳng liên quan tới ta?

Nó rón rén lại ghé tai bên cửa sổ nghe. Tiếng Hoàng Đức hỏi:

– Con đi chơi với Đào Kỳ, có thu được tin tức gì không?

Có tiếng Minh Châu đáp:

– Không có nhiều.

Rồi nàng thuật lại việc gặp vợ chồng Chu Thổ Quan cho Hoàng Đức nghe. Hoàng Đức nghe xong nói:

– Con phải nhớ, thái sư phụ và bố đưa con về đây để làm một việc trọng đại cho nhà ta, cho việc khôi phục Lĩnh-nam. Từ lúc thái sư phụ gặp Đào Kỳ, người đã nói với ta phải giữ nó ở trong trang, hy vọng cha, chú, cậu của nó sẽ tìm đến. Bấy giờ ta chỉ khẽ ra tay là bắt được hết. Nhưng bốn năm qua, chúng ta không được tin tức gì của họ. Rồi tự nhiên xảy ra vụ thái sư phụ bị mất cắp, ta bị đánh trọng thương. Ta với đại sư bá và hai vị sư thúc gặp một đối thủ lợi hại bịt mặt trong đêm… Thái sư phụ nghi tất cả chỉ do một người của Đào trang gây ra. Người này tất có vai vế cao hơn Đào Thế Kiệt, nên võ công y cực cao. Từ đấy thái sư phụ tỏ ra chiều chuộng, thương yêu Đào Kỳ, cho con đi bên cạnh nó, may ra biết được tung tích người kia.

Tiếng Minh Châu nói:

– Con thấy Đào Kỳ thực là người có khí phách, tại sao chúng ta phải coi anh ấy là kẻ thù nghịch, mà không kéo anh ấy về với Thái-hà mưu đồ cùng thống nhất võ công Lĩnh Nam.

– Con chẳng hiểu gì cả. Ta cần là cần người có võ công cao ẩn nấp trong Thái-hà trang. Nếu kiếm được y ta sẽ có tất cả võ công tối cao của Cửu-chân. Ta sẽ dùng võ công đó, cho những người khác của Cửu-chân tập. Họ sẽ là người của ta, mà võ công tuyệt cao. Hôm nay ta biết chắc Đào Kỳ có liên lạc với người bí mật đó. Vì lúc Chu Quang ném Hoả-lựu, y đã dùng thân pháp Long– biên, lẫn với Cửu-chân có pha Tản-viên. Đúng là thứ võ công của người bí mật đánh trong đêm hôm nọ.

– Con xin bố một điều, dù gì, cha cũng không được hại Đào đại ca.

– Con thực đoảng quá! Bố đã hứa gả con cho Chu Quang rồi, tháng sau sẽ cưới, tại sao con lại có tình ý với Đào Kỳ?

Tiếng Minh Châu gắt lên:

– Con có tình ý gì đâu? Con thấy anh ấy là người có tư cách, có chí khí thì không muốn hại anh ấy mà thôi.

Tiếng Hoàng Đức cười:

– Thái sư phụ biết hắn không có cảm tình với con. Hôm nay bọn con đi chơi. Thái sư phụ cho người đi theo bén gót, thấy nó với sư tỷ Tường Qui tình ý đậm đà. Chiều nay hai người xuống cấm phòng của thái sư phụ tình tứ. Chúng ta biết hết. Thái sư phụ bảo để cho gã Đào Kỳ mê sư tỷ con, rồi tháng sau gả sư tỷ cho họ Trương, làm cho nó thất tình, khổ sở, thì tự nhiên để lộ hết chân tướng, chúng ta sẽ tìm ra kẻ bí mật kia là ai?

Những câu về sau Hoàng Đức nói nhỏ quá, Đào Kỳ không nghe thấy gì nữa. Một lát thấy Hoàng Đức trở ra, Minh Châu khép cửa lại rồi vào phòng.

Đào Kỳ trở về phòng, toát mồ hôi lạnh:

– Thì ra bấy lâu nay ta vẫn là con chim mồi để bắt bố và cậu ta, nhưng không hiểu người ở đâu mà không xuất hiện. May mắn ta đọc được võ công trong cây gậy đồng, xuất hiện đánh với Hoàng Đức và bọn Đức Hiệp, chúng tưởng ta là tiền bối cao nhân của Cửu-chân. Chúng còn độc ác, dùng cả con cháu vào việc mưu đồ bất chính nữa. Nhưng… Minh Châu đối với ta đầy chân tình. Tường Qui đối với ta tình sâu hơn biển. Ta không thể tiếp tục để cho nàng khổ sở nữa. Ta… phải thoát khỏi nơi này mới được.

Nhưng trước khi đi, ta phải từ biệt Tường Qui đã.

Nó lấy giấy viết mấy chữ:

Yểu điệu thục nữ,

Quân tử hảo cầu,

Cầu chi bất đắc:

Ngụ mị tư phục.

Du tai, du tai,

Triển, chuyển, phản trắc.

Mấy câu này nó lấy ý trong bài thơ Quan-thư của kinh Thi nói rằng “Có người con gái xinh đẹp. Người quân tử đem lòng yêu mến mà cầu. Cầu mà không được, nên ngủ, thức tưởng nhớ. Nhớ quá, quay phải, nằm sấp, nằm ngửa đều thương”. Rồi nó lấy khăn che mặt, tiến lại phía phòng Tường Qui. Nó khẽ đẩy cửa sổ, lén bỏ bức thư vào rồi lùi lại, đi về phía Nam trang. Nó đi được một quãng thì nghe rõ ràng có người theo sau. Tiếng chân rất nhẹ. Nó đoán là Hoàng Đức hoặc Đức Hiệp. Bất thình lình nó quay lại, thì thấy người kia ẩn vào gốc cây. Nó tiến tới gốc cây, vung tay đẩy một chưởng. Người kia thấy bị lộ, cũng phóng chưởng đỡ lại. Hai chưởng gặp nhau, bộp một tiếng. Người kia lùi lại, còn nó đứng im. Người kia lên tiếng:

– Thì ra ngươi.

Tiếng nói của Đức Hiệp. Đào Kỳ lại nói giọng khàn khàn:

– Chúng ta có cần tái đấu không?

Đức Hiệp không nói gì, trầm người xuống, phóng một chưởng cực mạnh về phía trước. Nó nhận ra là chiêu Ác ngưu nan độ trong Phục ngưu thần chưởng. Không muốn chùng chình lâu, nó cũng vận chiêu Ác ngưu nan độ Âm nhu phản công. Bịch một tiếng. Đức Hiệp lùi lại, lảo đảo muốn không vững. Một người trong bóng tối nhảy ra đỡ Đức Hiệp, phóng chưởng đánh nó. Nó nhận ra chiêu Ngưu tẩu như phi, chưởng lực cực kỳ hùng mạnh, trên đời nó chưa từng thấy. Nó hít một hơi vận đủ mười thành công lực, đánh trả bằng chiêu Ngưu tẩu như phi nhưng vận Âm kình. Bịch một tiếng, ngực nó muốn nổ ra, người bắn về sau. Còn người kia lêu lên:

– Tuyệt lắm, đỡ chưởng nữa của ta.

Nó hoảng kinh, vì nhận ra tiếng Lê Đạo Sinh, nó vội nhảy trái, phóng vào đêm tối mất dạng.

Ghi chú của thuật giả:Kể từ năm 1975, các cơ quan mà tôi làm việc luôn luôn cấm tôi về Việt-Nam, cũng như vùng biên giới Hoa-Việt. Năm 1990, sau khi Tổng-thống Pháp François Mittérand sang thăm Việt-Nam, và ký một số hiệp ước, thì hai cơ quan mà tôi làm việc là viện Pháp-á (Institut Franco-Asiatique viết tắt là IFA) và Liên-hiệp các viện bào chế dược phẩm (Coopérative Européenne Pharmaçeutique viết tắt là CEP) đổi hẳn thái độ. Cả hai nơi luôn cử tôi đi trong phái đoàn với chức vụ cố vấn, làm việc tại Việt-Nam.

Trong những lần về như vậy, tôi lại dẫn các bạn Pháp thăm di tích lịch sử Việt-Nam. Di tích về An Dương vương là một. Tôi đã tìm ra được hai đền chính thờ ngài và các anh hùng thời Âu-lạc.

Đền thứ nhất tại xã Cổ-loa. Nói ra thực buồn, tôi nghiên cứu tất cả các tours mà những công ty du lịch lớn như Việt-Nam tourist, Sai-gòn tourist quảng cáo bán ở hải ngoại, dĩ chí những tours ngắn do những công ty nhỏ trong nước cũng… giống nhau: Không có tours nào giới thiệu Cổ-loa cả. Ngay một số tài xế của các công ty cho thuê xe, khi nói đến Cổ-loa, họ cũng phải hỏi thăm đường. Công ty duy nhất, là công ty Nghi-tàm, có thể cung cấp cho tôi một tài xế, tuy lớn tuổi, nhưng anh ấy biết đường đi tất cả những di tích. Tên anh là Toản. Sau gần một tháng đi thăm, lúc từ biệt, chúng tôi tặng anh một số tiền ngang với số tiền mà chúng tôi trả cho công ty. Anh ngạc nhiên vô cùng. Trong tất cả các di tích mà tôi dẫn người Pháp đi thăm, họ thích nhất Cổ-loa.

Tại Cổ-loa, có miếu thờ An Dương vương. Miếu được xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa, nên được giữ gìn khá cẩn thận. Miếu dựng trên kinh đô cũ của Âu-lạc ở Phong-khê, nay là xã Cổ-loa, huyện Đông-anh, Hà-nội. Gọi là miếu, chứ thực sự đây là khu đền đài khá lớn. Khu này chia làm hai: Một là những nhà bia, tiếc rằng bia bị đục mất nhiều chữ, thành ra tôi không thể chép lại đầy đủ. Hai là đền thờ. Gian nhà được gọi là Ngự-triều di quy rất đẹp, rất rộng. Phía sau có tượng thờ Mỵ Châu. Tượng chỉ có thân mà không có đầu, vì đầu bị… An-Dương vương chặt mất. Trên tường treo bức hoành phi có viết bài thơ của Chu Mạnh Trinh, chữ còn đầy đủ:

Lang quân tình trọng, phụ ân thâm,

Bất bạch kỳ oan trực đáo kim,

Cơ trảo vô linh, qui diệc khứ,

Minh châu hữu lệ bạng do trầm.

Hoang bi cổ mộc, thiên niên quốc,

Bích hải giao thiên nhất phiến tâm,

Tịch mịch tiến triều cung ngoại miếu,

Đỗ quyên đề đoạn, nguyệt âm âm.

Dưới đây là bản dịch của Nguyễn Tường Phượng:

Tình chàng dù trọng, nghĩa cha sâu,

Ôm ấp oan kia đến tận đâu?

Nỏ mất móng thiêng, rùa lẩn bóng,

Trai chìm đáy nước lệ hoen châu.

Bia tàn cây cỗi, ngàn thu hận,

Bể biếc trời xa một cánh sầu,

Cung miếu triều xưa nay vắng ngắt,

Trăng mờ khắc khoải cuốc kêu thâu.

Trong sân miếu có cây đa, do vua Ngô trồng, trải hơn nghìn năm cây đa vẫn còn đứng như chứng nhân lịch sử. Tương truyền khi trồng cây đa, Ngô vương có lời nguyền rằng:

“Sông kia nước có thể cạn, rừng kia có thể hết cây, nhưng cây đa này sẽ sống mãi với linh khí của vua An-dương”.

Thế nhưng trong đêm giao thừa tết Canh Thìn (2000), cây đa bị cháy. Nguyên do: Vì tuổi cao, có nhiều chỗ mục. Ngày tết người ta đốt vàng ở gốc cây. Cây bị cháy. Sau đó tuy lửa được dập tắt, song cây bị phỏng nhiều chỗ rồi… chết. Tháng 8 năm 2001, tôi trở lại thăm cố đô Cổ-loa, thì cây không còn nữa.

Tài liệu chữ Hán:

ĐVSKTT, Ngoại-kỷ.

Bắc-ninh toàn tỉnh địa dư chí.

ĐNNTC.

Nam Việt thần kỳ hội lục.

Thoát-hiên minh sử thi tập.

Chính pháp điện thạch bi.

<Còn tiếp…>

Cùng chuyên mục
Giới thiệu - Liên hệ
vinawap.mobi@gmail.com
DMCA PROTECTED