VinaWap.Mobi
VinaWap.Mobi đã trở lại và lợi hại hơn xưa! :x
Từ giờ mình sẽ cập nhật thường xuyên. Mong ae ủng hộ để vực dậy cộng đồng wap Việt nhé.
Game Mobi Army HD 239 - Anh Tài Tựa Gunbound
Mobi Army bắn súng, căn tọa độ tựa Gunbound -Gunny, đồ họa khủng, skill tuyệt đẹp.
Tải miễn phí
Game Ninja School 148
Game nhập vai Việt Nam được yêu thích nhất trên Mobile
Tải miễn phí
Trang chủ » Đọc truyện » Truyện kiếm hiệp

Tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ
Số chương: 40/40
Trạng thái: Hoàn tất


Anh hùng Lĩnh Nam

Thế sự hồi đầu dĩ nhất không,

Giang sơn vô lệ khấp anh hùng.

(Phan Chu Trinh 1872-1926,

Chí thành thông thánh thi)

Dịch nghĩa:

Ngẫm sự thế, quay đầu nhìn về quá khứ, không còn gì cả.

Giang sơn hết nước mắt mà khóc cho sự nghiệp các anh hùng.


Chương 1: Thế Sự Hồi Đầu Dĩ Nhất Không Giang Sơn Vô Lệ Khấp Anh Hùng

Trời nắng thu, gió heo may rít lên từng cơn, những cây thông bên bờ biển vi vu như tiếng ai oán của dân Việt mất nước. Trên bãi biển Ngọc-đường, một người đàn ông tuổi khoảng 50, lưng đeo bảo kiếm, tay dắt đứa trẻ, thả bước ngắm cảnh. Dân chài đang tụ tập làm việc, người thì vá lưới, kẻ thì giặt lưới. Họ thấy cha con người đàn ông thì lễ phép đứng dậy chào hỏi. Mỗi lần như vậy, cha con phải ngừng lại đáp lễ. Một lão già đang vá lưới, đứng dâïy chắp tay hỏi:

– Đào-hầu hôm nay thư thả, ra đây ngắm cảnh?

Người đàn ông chậm rãi trả lời:

– Khi trong lòng đau dớn, thì còn cảnh nào đẹp nữa? Khi nước đã mất thì còn lòng dạ nào mà dạo chơi?

Đứa trẻ đi cạnh ngước mắt nhìn cha hỏi:

– Bố ơi, nước mình đã mất đâu? Bố con ta chả đang sống trên đất nước mình đây sao?

Đào-hầu không trả lời, dắt con đi ngược lên đồi thông. Tới một mỏm đá nhìn ra biển, ông kéo con ngồi xuống, chỉ ra hòn đảo cách bờ không xa hỏi:

– Con có biết hòn đảo kia tên gì không?

Đứa trẻ trả lời:

– Đại sư huynh bảo đó là hòn đảo Nghi-sơn. Trên đảo có núi Biện-sơn. Đảo dài 4 dậm, rộng 2 dậm. Từ đây ra đảo khoảng 150 trượng. Trên đảo có đền thờ Mỵ Châu. Bãi biển Nghi-sơn có nhiều ngọc trai. Phía tây núi Biện-sơn có một giếng nước tên là Ngọc-tỉnh, nghĩa là giếng ngọc. Đem nước giếng ấy rửa ngọc trai, thì ngọc sáng và đẹp lắm.

Đào-hầu ngạc nhiên hỏi:

– Ai đã dẫn con đi chơi đảo Nghi-sơn?

Đứa trẻ cười nắc nẻ, giật tay cha:

– Thưa bố, anh Nghi-sơn.

Đào-hầu gật đầu, trầm tư nhìn những lớp sóng từ biển cuốn vào bờ, thở dài.

Đào-hầu tên thực là Đào Thế-Kiệt. Ông có ba con trai, con lớn là Đào Nghi-Sơn, con thứ là Đào Biện-Sơn, đều đã trưởng thành. Con thứ ba là Đào Kỳ, tức đứa trẻ này, mới 13 tuổi. Ông thấy Kỳ còn nhỏ, nên chưa cho biết những điều hệ trọng của đất nước, vì vậy trên bãi biển, nghe con đặt câu hỏi có liên quan đến đại vận dân tộc, ông không trả lời.

Ông hiện là một trong chín Lạc-hầu ở vùng Cửu-chân. Tổ tiên ông nguyên là tướng của Thục An-dương vương. Khi An-dương vương bị Triệu Đà cất quân sang đánh, bị thua trận, chạy đến đây thì khám phá ra con gái là Mỵ-Châu vì ngây thơ dại dột trong tình yêu mà làm mất nước.

Ngài giết con gái để tạ tội với thiên hạ rồi nói với các tướng sĩ rằng:

– Ta vì sinh con, không biết dạy, đến nổi làm hư việc nước. Ta không còn mặt mũi nào nhìn các quan, nhìn quốc dân nữa. Ta nguyện lấy cái chết để tự xử mình. Sau khi ta chết rồi, các người hãy chịu nhục, ẩn nhẫn theo gương Câu Tiễn nằm gai nếm mật, giúp người già, dạy trẻ thơ, để mai này khôi phục lại giang sơn.

Nói rồi An-dương vương nhảy xuống biển tự tử. Trong các tướng hồi đó có tổ tiên của Đào hầu. Ông cùng binh sĩ khai phá đất hoang, đốt rừng làm rẫy, lập ra Đào trang, đến nay đã bảy đời.

Trước khi tổ tiên ông tới đây thì vùng này dân chúng phiêu bạt, sống rải rác khắp nơi. Tổ tiên của ông cùng tám vị tướng khác chia nhau mỗi người một vùng, tụ tập dân chúng lại, dạy cho họ trồng cây, chăn nuôi. Lại giúp họ cất nhà, đóng thuyền, làm lưới đánh cá. Dân chúng cảm phục tôn chín người thành chín vị Lạc-hầu.

Thời bây giờ, người Hán tuy cai trị đất Việt, nhưng vẫn dùng chế độ phong kiến, mỗi vùng để nguyên một vị Lạc-hầu hay Lạc-tướng cai trị. Dân trong ấp dưới quyền điều động của Lạc-hầu, Lạc-tướng. Còn Thái-thú, Huyện-lệnh, Huyện-úy thì chỉ việc kiểm soát các Lạc-hầu, Lạc-tướng mà thôi.

Quận Cửu-chân, có một Thái-thú cai trị. Dưới Thái-thú có một Đô-úy coi về quân sự, có một Đô-sát coi về an ninh giống như ngày nay là cảnh sát, công an. Quận Cửu-chân chia làm bốn huyện, mỗi huyện có một Huyện-lệnh người Hán và một Huyện-úy khi thì người Việt, khi thì người Hán coi về quân sự. Mỗi huyện cũng có một Giám-sở Tế-tác coi về an ninh.

Sau gần 100 năm thì các Lạc-hầu họp nhau lại, lập ra phái võ Cửu-chân, thành ra bây giờ ở Cửu-chân chỉ có một phái võ, nhưng có tới chín trang ấp khác nhau. Từ khi phái võ Cửu-chân được thành lập đến giờ trải gần 100 năm. Võ phái Cửu-chân lấy việc phản Hán phục Việt làm lẽ chính để hoạt động. Các tôn sư của phái trọng nghĩa khinh tài, nên được các anh hùng khắp vùng Lĩnh-nam như Nam-hải, Quế-lâm, Giao-chỉ, Nhật-nam, Tượng-quận kính phục.

Tuy bên trong phái Cửu-chân có ý đồ lớn như vậy, nhưng vẫn giữ được bí mật. Nên khi Đào hầu thấy Đào Kỳ biết tường tận về đảo Nghi-sơn, ông tưởng mưu đồ bí mật đó con đã biết, nên mới vặn hỏi. Không ngờ, Đào Kỳ không biết gì hơn về thắng cảnh địa phương.

Nguyên hai hòn núi ngoài bờ biển, trước đây không có tên, một lần Đào hầu cùng phu nhân đi ngoạn sơn hứng gió, trở về đẻ ra người con thứ nhất, ông đặt tên là Nghi-Sơn, và đặt tên hòn núi đó là Nghi-sơn luôn. Hai năm sau ông bà du ngoạn hòn núi thứ nhì, về thụ thai đẻ ra người con thứ nhì, ông đặt tên là Biện-Sơn, và cũng đặt núi đó là Biện-sơn.

Ghi chú của thuật giả:

Đảo Nghi-sơn ngày nay nằm cách thị xã Thanh-hoá 55 km tại xã Ngọc-đường. Đảo dài khoảng 6 km, rộng 2 km, cách bờ biển khoảng 300-500 m. Trên đảo Nghi-sơn có núi Biện-sơn. Đền thờ Mỵ Châu hiện nay vẫn còn. Giếng Tẩy ngọc cũng còn. Trên đảo có một thành, xây từ đời Tây-sơn đặt 12 khẩu đại bác.

Thấy Đào Kỳ tuy mới 13 tuổi, nhưng đã khôn ngoan, ông muốn cho con biết những điều hệ trọng. Trước khi cho biết, ông gây sự tò mò của con, hơn là nói thẳng ra. Ông hỏi Kỳ:

– Con đã học được bao nhiêu cuốn sách rồi?

Đào Kỳ chìa bản tay ra tính:

– Đại-học này, Trung-dung này, Luận-ngữ này, Mạnh-tử này. Tứ-thư con học hết rồi. Ngũ-kinh thì con đã học kinh Thi, Thư, Xuân-thu, còn kinh Dịch thì đang học. Thầy con bảo tháng sau con sẽ được học Hàn-phi tử.

Đào hầu hướng mặt nhìn ra xa:

– Cuộc thế xoay vần, nhà Chu phong cho 800 chư hầu, nay chỉ còn lại một đất Trung-nguyên, những dân xung quanh đều trở thành Hán. Người Hán coi các dân tộc khác như thú vật, như man mọi. Họ gọi chúng ta là rợ Việt, là Nam-man, là rợ Giao-chỉ. Chúng ta có quốc tổ Hùng-vương, mà không được thờ, phải thờ Hoàng-đế, thờ Chu-công, Văn-vương, lại còn phải thờ cái gã nhà quê Lưu Bang tức Cao-tổ nhà Tây-hán . Người ta nhân danh là Hán, có quyền coi chúng ta như trâu, như chó, muốn giết thì giết, muốn bỏ tù thì bỏ. Tại sao chúng ta lại phải cúi đầu chịu nhục như vậy?

Đào Kỳ như thức tỉnh, nhìn vào chân trời xa xa:

– Vì người Hán có gươm, có đao, có sức mạnh. Vì người Hán đông, người Việt ít.

Đào hầu gật đầu:

– Chúng ta cũng có gươm, có đao, có sức mạnh. Nhưng chúng ta thiếu hai thứ: một là sự hợp quần, hai là lòng can đảm. Nếu chúng ta được hai thứ đó thì có thể đuổi người Hán ra khỏi đất nước này. Bởi vậy hôm nay bố đưa con lên đây, để dạy con mấy bài học.

Đứa trẻ mở to mắt reo lên:

– Bố ơi, con đã học xong bộ Cửu-chân trượng pháp rồi. Hôm nay bố dạy con Cửu-chân chưởng pháp đi bố.

Đào hầu lắc đầu:

– Võ thì lúc nào học chẳng được. Con đã 13 tuổi rồi, bố phải dạy con bài học quan trọng hơn. Nếu không có bài học này thì dù con có đọc hàng nghìn cuốn sách, có học hết các võ công trong thiên hạ cũng vô ích mà thôi. Đó là bài học để biết sử dụng những kiến thức trong sách vở, những chiêu thức võ học của thiên hạ.

Đào Kỳ hỏi lại:

– Bố ơi, con biết sử dụng Cửu-chân trượng pháp, Cửu-chân cầm nã thủ và Cửu-chân kiếm pháp rồi. Có khó gì đâu?

Đào Kỳ nói xong, nó rút kiếm bên cạnh cha ra, làm lễ rồi múa như mây bay, như gió cuốn. Hết bài, nó làm lễ với cha rồi tra kiếm vào vỏ, ngồi xuống.

Đào hầu vẫn mơ màng nhìn ra biển:

– Con biết sử dụng kiếm, nhưng dùng nó để làm gì? Giúp ích cho ai?

Đào Kỳ suy nghĩ một lúc, rồi chau mày, miệng muốn nói gì, rồi lại lắc đầu lộ vẻ không hiểu.

Đào hầu vuốt tóc con:

– Bố có ba con trai, thì con có ngộ tính cao nhất, hy vọng con sẽ là người thực hiện được cái chí của bố. Cho nên hôm nay bố đưa con lên đây để dạy cho con bài học quan trọng, đó là chỉ cho con biết sử dụng những gì con học được.

Ngừng một lát Đào hầu tiếp:

– Chúng ta thuộc dòng giống Bách Việt ở phía Nam núi Ngũ-lĩnh. Tổ tiên của chúng ta là Lạc-long quân. Lạc-long quân lấy tổ mẫu là Âu-cơ, tương truyền sinh được một trăm người con. Lạc-long quân phong cho mỗi con cai trị một vùng, do đó chúng ta có dòng giống Bách-việt. Người con cả của Lạc-long quân lên làm vua, lập ra họ Hồng-bàng, nước gọi là Văn-lang.

Đào Kỳ gật gật đầu, tỏ ý hiểu biết.

– Trải qua mấy ngàn năm đất nước của người Việt vẫn riêng một phương trời Nam. Sau vua Hùng thứ 88 vì mải mê rượu chè, bỏ bê chính sự, một trong các vua giống Bách-việt là Thục Phán đánh lấy nước Văn-lang lập ra nhà Thục. Vua Thục đặt tên nước là Âu-lạc.

Ghi chú của thuật giả:

Theo cổ sử, thì họ Hồng-bàng làm vua được 18 đời. Nhưng chúng tôi căn cứ vào một thư tịch khác thì không phải 18 mà 88. Con số 88 hợp lý hơn, nên trong suốt tất cả các tác phẩm của tôi, tôi dùng con số này. Xin đọc sang Anh-hùng Lĩnh Nam quyển 4.

Đào Kỳ reo lên:

– Con biết rồi bố ơi! Có một lần thầy đồ dạy con học, khi nói đến nước Âu-lạc thì người ngưng bặt, và thở dài. Con hỏi nước Âu-lạc là gì thì thầy lắc đầu. Tại sao thế hở bố?

Người cha thở dài:

– Đất nước có tên mà không dám nói tới. Người sống có khác gì chết không? Thầy con nhắc tới quốc hiệu Âu-lạc mà không dám giảng cho con nghe, vì nước chúng ta bị người Hán đô hộ, họ cấm nói đến những gì về lịch sử của chúng ta.

Đào Kỳ như đã hiểu được cha nó muốn nói gì:

– Bố ơi, thế nước Âu-lạc chúng ta làm sao mà bị mất, và mất tự bao giờ?

– Chúng ta mất nước tính đến nay là 184 năm rồi. Khi An-dương vương dựng nước, thì bên Trung-nguyên, Tần Thuỷ-hoàng thôn tính hết các chư hầu, dựng thành Trung-nguyên. Tần Thuỷ-hoàng muốn đất Âu-lạc thành quận huyện cai trị như Trung-nguyên. Thục An-dương vương cương quyết không để mất nước, chống lại. Thuỷ-hoàng sai tướng là Đồ Thư mang nửa triệu quân sang đánh. Người Việt ta, do đại tướng quân Cao Nỗ chỉ huy, ẩn vào rừng đêm ra đánh nhau với quân Tần. Cuối cùng giết được Đồ Thư, và bảo toàn được độc lập. Trong cuộc chiến này, đất nước chúng ta quá rộng, mà người ít, phải rút về phương Nam. Quân Tần lấy mất một số đất đai phía Nam núi Ngũ-lĩnh đặt ra ba quận Nam-hải, Quế-lâm và Tượng-quận, giao cho một viên quan cai trị, đó là Triệu Đà.

Ghi chú của thuật giả:

Tư Mã Thiên, Sử-ký quyển 112, chép: “Bấy giờ Thuỷ-hoàng phía Bắc thì mắc họa với rợ Hồ. Phía Nam thì khốn khổ với người Việt. Đóng binh ở chỗ đất hiểm, tiến không được, mà thoái thì cũng không xong. Suốt 10 năm, đàn ông phải mặc áo giáp, đàn bà phải xung làm lao dịch chuyên chở, khổ sở không chịu nổi. Người người thắt cổ trên cây dọc đường, người chết trông nhau”.

Nghe cha nói, mặt Đào Kỳ hiện ra những nết ưu tư như người lớn. Đào hầu tiếp:

– Sau nhân Tần Thuỷ-hoàng tàn ác, dân chúng nổi loạn khắp nơi, Triệu Đà cũng không thần phục nhà Tần, xưng là Triệu Võ-vương, đóng đô ở Phiên-ngung. Đà là người khôn ngoan, có chí lớn, muốn lập một quốc gia lâu dài. Nhưng mở rộng về phương Bắc thì vướng nhà Hán hùng mạnh, nên tìm cách Nam tiến. Triệu Đà thấy trước đây Đồ Thư, đem quân Tần đánh nước Âu-lạc mà bị giết, vì Âu-lạc có ba bảo vật. Đà tìm cách phá ba thứ đó. Y bèn hỏi công chúa Mỵ Châu của An-dương vương cho con trai đầu lòng là Trọng Thuỷ, và khôn ngoan hơn, cho Trọng Thuỷ ở rể. Kỳ con, con thấy Triệu Đà có khôn không?

Đào Kỳ, tuy mới 13 tuổi, nhưng được cha dạy võ, thầy dạy văn, cha con luôn cạnh nhau, nên đã trưởng thành, biết suy nghĩ như người lớn. Nó cau mặt:

– Chắc là Thục An-dương vương không chịu gả Mỵ Châu cho Trọng Thuỷ.

Đào hầu lắc đầu:

– Con lầm rồi! An-dương vương chịu gả mới khổ chứ! Tại sao con cho rằng An-dương vương không chịu?

– Con nghĩ An-dương vương là người có tài, có chí lớn, thì mới thắng được Hùng-vương. Sau khi thắng Hùng-vương lại một lần kinh nghiệm nữa, không lẽ không biết được ý đồ của Triệu Đà? Mà dù vương có lầm lẫn thì tướng sĩ của ngài sẽ ngăn cản. Ngài dại gì gả Mỵ Châu cho Trọng Thuỷ.

Đào hầu thấy con có nhận xét tinh tế, ông mừng lắm. Ông nghĩ thầm: Nếu cứ đà này, thì năm 20 tuổi, Đào Kỳ sẽ là người lỗi lạc, có thể nối chí ông mưu đồ phục quốc được.

– Con đã biết nhìn xa rồi đó. Quân Tần mạnh mẽ biết chừng nào, gồm thâu các nước Trung-nguyên, thế như thác đổ. Vua Tần dùng đến nửa triệu quân đánh Âu-lạc nhưng vẫn bị bại. An-dương vương vì tự hào đó mà mất nước. Ngài quên rằng Âu-lạc có Tam bảo mới thắng được Tần. Con biết Tam bảo là gì không?

Đào Kỳ ngơ ngác nhìn cha, suy nghĩ một lúc rồi gãi đầu, bứt rứt trả lời:

– Con tìm ra rồi, Tam bảo là ba thứ quí. Thứ nhất là võ công của Âu-lạc, Văn-lang hơn Tần. Thứ nhì là địa thế Âu-lạc hiểm trở, khiến quân Tần tiến không được lui cũng không xong. Còn bảo vật thứ ba là gì thì con nghĩ không ra.

– Được, bố sẽ cho con biết nó là gì. Con hãy làm đừng hỏi vặt, đợi xong rồi sẽ biết.

Ông lấy cỏ bện thành một cái bùi nhùi dài, rồi quấn quanh người con như cái áo giáp. Ông lại lấy kiếm chặt tre, đẽo thành một cây côn đưa cho Đào Kỳ, dặn:

– Con đã học Cửu chân trượng pháp, con đánh cho bố coi.

Đào Kỳ cầm côn, bái tổ rồi đi thứ tự từng lộ một. Khi nó đi đến lộ thứ nhì thì có tiếng ngựa hí. Hai con tuấn mã, trên lưng chở hai người Hán, ăn mặc theo lối quan binh tiến lại gần. Biết có người lạ nhưng nó không dám ngừng lại, vì Đào hầu dạy con rất nghiêm. Khi luyện tập võ nghệ, dù có biến cố gì chăng nữa cũng không được phân tâm. Nên hai con ngựa tiến lại bên cạnh, mà Đào Kỳ vẫn tiếp tục đi hết 36 lộ, mới ngừng.

Hai người mặc theo lối quan binh Hán, thì một người to lớn da trắng, một người gầy, cao da đen. Người to lớn quát:

– Cái bọn Nam-man này trốn lên đây tập võ. Quân này to gan thực, không coi phép tắc của quan Thái-thú ra gì cả!

Dứt lời y lấy roi ngựa quất vào đầu Đào Kỳ, tiếng roi xé gió kêu rít lên vi vu, đủ tỏ kình lực của nó không tầm thường. Cây roi của y là một thứ vũ khí ít thấy, bởi nó bằng da mềm mà dài. Cây roi quấn ngang lưng Đào Kỳ đến ba vòng. Viên quan Hán quát lên một tiếng, rồi giật mạnh roi. Người Đào Kỳ vọt lên cao khỏi mặt đất, bay về phía ngựa viên Hán quan. Viên Hán quan gầy đứng ngoài thấy thế cười ha hả:

– Triệu Thanh, xé xác thằng Nam-man con ra làm đôi đi.

Y vừa nói hết câu, thì một tiếng bốp vang lên, người bạn y to lớn mập mạp đã ngã lăn xuống đất. Còn Đào Kỳ thì ngồi chễm chệ trên lưng ngựa.

Thì ra khi thấy tên quan binh to lớn muốn dùng roi để giật mình lên khỏi mặt đất, Đào Kỳ mượn thế nhảy theo; sức người, sức mình hợp làm một, bay về phía địch. Trong khi bay trên không, nó chuyển trượng giáng một đòn vào đầu đối thủ. Triệu Thanh ngã xuống, còn Đào Kỳ thì đáp trên lưng ngựa.

Nói thì chậm, nhưng diễn biến thì nhanh vô cùng, khiến tên Hán quan gầy gò chỉ còn biết há miệng ra quát tháo:

– Phản rồi! Phản rồi!

Y rút đao ở lưng ra, chân thúc ngựa tiến về phía Đào Kỳ. Đào Kỳ liếc mắt nhìn Đào hầu, thấy ông ngồi trên tảng đá lơ đãng nhìn ra biển, như nghĩ ngợi xa xôi. Ông bảo con:

– Đã trót thì phải giải quyết cho xong đi chứ?

Đào Kỳ dạ một tiếng, đưa côn gạt đao của đối thủ, rồi nó lộn một vòng trên không đáp xuống đất cười hỏi:

– Ngươi là ai, xưng tên cho ta biết.

Người gầy quát:

– Ta là lữ trưởng kỵ binh Cửu-chân. Ngươi vừa đánh ngã lữ phó của ta. Ngươi mau nạp mình, để ta mang về xử tội.

Đào Kỳ cười:

– Đã là lữ trưởng, thì võ nghệ phải cao cường. Ngươi có giỏi xuống ngựa đấu với ta.

Hán quan thấy vừa rồi đứa trẻ chỉ ra một chiêu mà bạn y đã thảm bại. Y đưa mắt nhìn Đào Kỳ để định giá địch thủ. Y thấy đứa trẻ dường như không sợ hãi. Bởi thời bấy giờ quân Hán tác oai tác quái thế nào thì dân chúng cũng phải chịu. Trẻ con, người lớn hễ thấy quân Hán là chạy trốn. Đây Đào Kỳ đã không sợ, còn coi thường nữa. Y thấy cạnh Đào Kỳ còn người cha chưa ra tay, y cũng chột dạ. Nhưng bản tính hống hách đã quen của kẻ đi cai trị, y không thể lui được. Y rút đao nhảy xuống ngựa, đứng thủ thế. Bất thình lình y hét lên một tiếng lớn nhảy vào chém liên tiếp năm đao: Từ trái sang phải, từ phải sang trái, trên xuống dưới, từ dưới lên trên, quay một vòng, rồi đâm thẳng vào ngực Đào Kỳ. Đào Kỳ chỉ nhảy nhót tránh né, chứ không phản công, vì đây là lần đầu tiên giao chiến với địch nên nó thiếu kinh nghiệm.

Đào hầu kêu lên:

– Ngũ hổ đoạn môn đao.

Nghe bố nhắc, nó tỉnh ngộ: Ngũ hổ đoạn môn đao là một thứ đao pháp vùng đất Thục. Đao pháp thiên về dương cương. Khi đánh thì để hở bộ vị dưới chân. Chờ tới khi đối thủ chém đao cuối cùng theo vòng tròn, Kỳ thụp người xuống quất một côn vào hạ bàn y. Viên quan hoảng hốt lộn người để tránh. Khi chân y vừa chạm đất, thì thế côn thứ nhì lại đâm vào hạ bộ. Y hoảng hồn lăn tròn người đi bốn vòng thoát nạn, bật người đứng dậy, thì một thế côn đã trúng đầu y đến bốp một cái. Y ngất xỉu.

Dầu sao Đào Kỳ cũng là một đứa trẻ, chưa kinh nghiệm chiến đấu, đánh địch thủ rồi không biết giải quyết ra sao? Nó hỏi bố:

– Bố ơi! Chúng nó ngất hết rồi.

Đào hầu chỉ thanh kiếm cạnh mình:

– Cho mỗi đứa một kiếm vào cổ.

Tên béo mập đã tỉnh dậy, y bở vía, quỳ gối chắp tay lạy:

– Xin đại nhân làm ơn làm phúc tha cho tiểu nhân. Tiểu nhân trót mạo phạm. Từ nay tiểu nhân gặp đại nhân đâu sẽ xin cúi đầu làm lễ.

Đào Kỳ hỏi bố:

– Bố ơi, tha hay giết?

Đào hầu bảo con:

– Con thắng chúng nó, chứ không phải bố thắng. Tha hay không là tuỳ con.

Đào Kỳ nhìn hai quan nhân người Hán, đang quỳ dưới đất, lòng nó bỗng thấy tội nghiệp, quát lên:

– Ta tha cho đấy. Về đi!

Hai người quan nhân Hán như đã xuống quỷ môn quan được trở về, vội thụp lạy Đào Kỳ rồi lên ngựa phóng thẳng.

Đào hầu nhìn con đầy vẻ hân hoan:

– Con đã thắng được hai võ quan kỵ binh Cửu– chân. Qua cuộc đấu vừa rồi con thấy thế nào?

Đào Kỳ tưởng nhớ lại cuộc chiến đấu:

– Con thấy có điều rất lạ. Một là hai người đều có sức mạnh, đòn đánh ra như vũ bão, chứng tỏ ra đã nhiều năm luyện tập. Nhưng con thấy chúng để ra những sơ hở quá nhiều. Hai là những sơ hở đó lại hợp với những chiêu thức bố dạy con. Bố cho con biết tại sao đi!

– Những điều con nhận xét rất đúng. Có gì mà không hiểu. Nếu như bố luyện võ của Trung-nguyên từ bé, thì giờ phút này chưa chắc bố đã là đối thủ của họ. Còn con học võ Văn-lang, Âu-lạc, nên chỉ một hai chiêu hạ được họ là lẽ thường. Con nên biết rằng võ học nhà ta xuất phát từ đời An-dương vương. Cửu-chân trượng pháp là của ông Nồi, ngài tên thực là Vũ Bảo Trung. Nguyên ba cha con ông Nồi xưa kia là tướng của An-dương vương. Các ông đã nhân giao đấu với quân Tần, tìm ra tất cả những phá cách của võ học Trung-nguyên, rồi chế ra 36 lộ trượng pháp. Bởi vậy mỗi thế đánh của họ, để ra những sơ hở. Nếu như con giao chiến với người Lâm-ấp, thì chưa chắc con đã thắng họ dễ dàng như vậy. Con phải tìm hiểu lối đánh của họ, nhiên hậu mới thắng. Còn con đánh với người Hán, thì những thức, những chiêu con đánh ra đều khắc chế với họ cả, do vậy con thắng họ dễ dàng… Bây giờ con dùng Cửu-chân trượng pháp để tự vệ. Bố sẽ dùng những cành cây làm tên, bắn vào con.

Ghi chú của thuật giả:

Ông Nồi, tên thực là Vũ Bảo Trung tước phong Trung-tín hầu, là khai quốc công thần của Thục An-dương vương. Ngài quán tại Hương-canh, huyện Yên-lãng, tỉnh Vĩnh-phú, Bắc Việt. Xuất thân là người làm nghề nặn đồ sành bán, nên dân chúng gọi là ông Nồi. Ngài là đệ tử của Vạn-tín hầu Lý Thân. Ngài có hai người con trai, lớn là ông Đống tức Vũ Bảo Sơn tước phong Bảo-nghĩa hầu, thứ là ông Vực tức Vũ Bảo Hà tước phong Bảo-tín hầu. Khi Triệu Đà xâm lăng Thục, ba cha con ngài đều tuẫn quốc. Nơi cha con Ngài tuẫn quốc là vùng Chiêm-trạch, dân chúng gọi là gò Thánh-hóa. Ngày nay đền thờ của ba cha con Ngài còn tại Ngọc-chi và Vĩnh-thanh, huyện Đông-anh, Hà-nội.

Đào Kỳ tuân lệnh, múa côn như một chiếc cầu xanh bao phủ lấy thân. Đào hầu dùng những cành tre nhỏ như những mũi tên phóng vào người con. Ông phóng một lúc năm mũi, thì Kỳ gạt được có hai, còn ba mũi ghim vào tấm áo giáp bằng cỏ. Đến đó Đào hầu ngừng lại, hỏi con:

– Lúc nãy bố con ta đang nói đến Tam-bảo, con đoán được hai. Vậy vừa rồi là đệ tam bảo đó.

Đào Kỳ ngơ ngác không hiểu:

– Thế nghĩa là…

– Là kỹ thuật bắn cung tên của Âu-lạc.

Đào Kỳ đang hớn hở, bỗng buồn thiu lại:

– Con có nghe truyện này rồi. Mẹ kể cho nghe ngày xưa, vua An-dương xây thành Cổ-loa, cứ xây lại bị đổ. Sau được thần Kim-quy hiện lên bắt ma đi, vua mới xây được thành. Sau khi xây thành, thần cho vua cái móng rùa, làm nỏ thần. Mỗi phát bắn ra cả ngàn người chết.

– Không phải thế đâu con ơi! Không phải thần Kim-quy, mà là đại tướng Cao Nỗ. Ngài chế ra nỏ, có thể bắn một lúc cả trăm mũi tên. Có mũi nỏ như tên thường, có mũi to bằng bắp tay. Như ban nãy, bố giả làm tên bắn vào con, hai mũi thì con đỡ được, còn ba mũi thì con không đỡ được nữa. Nếu một tướng, dẫn đoàn quân xung trận, chỉ cần nẫy nỏ của Cao hầu bắn một phát, trăm mũi tên tung ra, thì ông tướng đó phải chết, phân nửa đoàn quân tê liệt. Nếu có mười nỏ hay trăm nỏ thì quân nào chịu cho nổi? Vì có nẫy nỏ đó, quân Âu-lạc thắng quân Tần. Triệu Đà nhiều lần đánh Âu-lạc đều bị bại vì thần nỏ.

Bây giờ Đào Kỳ mới hiểu:

– Thì ra Triệu Đà đánh Âu-lạc không được, mới cho Trọng Thuỷ sang làm rể, để phá Tam-bảo của An-dương vương. Một là biết được đường xá, địa thế, tình hình. Hai là biết được võ học Âu-lạc, ba là biết được cách làm nỏ thần.

– Đúng đấy. Bấy giờ trong triều Âu-lạc các quan đều phản đối. Nhưng có một số nhận hối lộ của Trọng Thuỷ nên tán thành. Đại tướng quân Cao Nỗ buồn rầu, cùng em là Cao Tứ lui về vườn ở ẩn. Trọng Thuỷ ở rể Aâu-lạc một thời gian đã mua chuộc được nhiều người, ngầm phá hại hết tất cả những xe chở nỏ, những dàn nỏ lớn đặt trên thành. Thuỷ nhân lúc vợ chồng tình nghĩa mặn nồng, hỏi về bí mật chế nỏ. Mỵ Châu nhẹ dạ, ăn cắp sơ đồ chế nỏ đưa cho chồng xem. Trọng Thuỷ ghi nhớ trong lòng, rồi đem trả lại vợ.

Sau khi biết được Tam-bảo của Âu-lạc, Trọng Thuỷ xin phép về thăm nhà. Khi trở về Nam Việt, y tính rằng sẽ mang quân đánh Aâu-lạc, Tam-bảo bị mất Aâu– lạc tất bại trận. Vua An-dương sẽ bỏ chạy, sau đó tụ tập quân phản công. Y nghĩ ra một kế tặng cho Mỵ Châu chiếc áo bằng lông ngỗng. Dặn vợ rằng: Nếu giặc tới, chạy đi đâu thì rắc lông ngỗng đến đó, y sẽ theo dấu lông ngỗng tìm vợ.

Đào Kỳ quát lên:

– Thực là độc địa!

Đào hầu hỏi con:

– Con đoán được rồi à?

– Con đoán ra rồi. Trọng Thuỷ biết An-dương chạy đâu, thì mang Mỵ Châu theo. Cho nên Trọng Thuỷ mới tặng Mỵ Châu chiếc áo lông ngỗng, dặn nàng rắc lông để y biết mà tìm. Trọng Thuỷ chỉ việc theo dấu là bắt được An-dương vương.

– Đúng! Trọng Thuỷ về triều, cho chế nỏ thần như Aâu-lạc, rồi cùng cha là Triệu Đà cất quân đánh. Âu-lạc lâu nay hoà bình, không phòng bị. Khi quân Triệu Đà tới nơi, vội vàng mang nỏ thần ra bắn, thì mười cái hỏng cả mười. Thậm chí những dàn nỏ đặt trên thành cũng bị hỏng cả. Đại quân Âu-lạc tan vỡ mau chóng. An-dương vương vội ôm Mỵ Châu lên ngựa chạy về phía Nam. Chạy được hai ngày thì gặp đoàn đệ tử của anh em Cao Nỗ.

Đào hầu ngừng lại cho con theo kịp rồi tiếp:

– Nguyên khi về nghỉ ở thôn trang, đại tướng Cao Nỗ đã sáng chế ra một loại nỏ bắn mỗi lần cả ngàn mũi tên, tầm bắn xa gấp đôi. Vì vậy đoàn đệ tử của ngài ít người, nhưng bắn lui quân Triệu. Sau quân Triệu tới trùng trùng điệp điệp, mà đoàn đệ tử Cao gia chỉ có mấy trăm người, nên cuối cùng anh em ngài đều tuẫn quốc. Nhờ anh em Cao gia ra sức cản giặc, An-dương vương mới chạy đến đất này.

Trang: 1 2 3 74 >>
Cùng chuyên mục
Giới thiệu - Liên hệ
vinawap.mobi@gmail.com
DMCA PROTECTED